Một Thoáng Ta Rực Rỡ Ở Nhân Gian - Chương 09
Con đang ở trên con tàu khởi hành từ thành phố New York. Trên kiếng cửa sổ, khuôn mặt con không chịu buông tha con, nó lơ lửng trên những thị trấn lộng gió trong lúc con tàu Amtrak lao qua những bãi đất chồng chất xe hơi đã bị tháo tung vỏ và xe kéo trang trại gỉ sét bám đầy, qua các khoảnh sân sau xếp những chồng củi mục giống hệt nhau, những gò bóng lưỡng dầu đã bở rệt, thò cả qua mắt cáo hàng rào, rồi cứng lại tại chỗ. Qua các nhà kho nối tiếp nhau vẽ đầy graffiti, đã quét sơn trắng đè lên, để rồi tiếp tục bị vẽ lên, những ô cửa kiếng đã bể từ lâu lắm không còn miểng chai vương vãi trên nền đất bên dưới, những ô cửa sổ có thể ngó vào, và thoáng thấy, bên kia bóng tối trống rỗng bên trong, bầu trời nơi một thời từng có tường che chắn. Và kia, ngay bên ngoài Bridgeport, là ngôi nhà duy nhất, đã đóng ván gỗ hết các cửa, giữa một bãi đậu xe to ngang hai sân bóng bầu dục, những đường kẻ vàng chạy ra tới sát hàng hiên đổ nát.
Con tàu lao qua tất cả, các thị trấn con nay chỉ còn biết tới qua những gì đã rời bỏ chúng, trong đó có con. Ánh sáng trên dòng Connecticut là thứ chói lọi nhất dưới trời chiều đầy mây. Con đang ở trên con tàu này vì con đang trở về Hartford.
Con lấy điện thoại ra. Một trận mưa tin nhắn oanh tạc màn hình, đúng như dự đoán.
nghe tin trev chưa v?
lên fb đi
tin về Trevor đó bắt máy đi
mẹ nó kihn khủg quá gọi mình nếu muốn nc
mình mới thấy, đệch
để mình gọi ashley cho chắc
cậu ổn ko cgì báo nhé
lễ canh thức tối chủ nhật
lần này tới trev? biết mà
Không hiểu vì sao, con nhắn tin cho cậu: Trevor mình xin lỗi trở về đi, rồi tắt máy, kinh sợ cậu sẽ trả lời.
Con xuống ga Union của Hartford thì đã đêm rồi. Con đứng ở bãi đậu xe trơn trượt trong lúc người ta chạy qua màn mưa lất phất chui vào những chiếc taxi đang đợi. Đã năm năm ba tháng kể từ lần đầu con và Trevor gặp gỡ, từ hôm ở nhà kho, trận đấu của đội Patriots nghe qua tiếng rè của radio, cái nón sắt trên mặt sàn đầy bụi. Con đứng một mình dưới mái bạt chờ chiếc xe buýt sẽ đưa con qua bên kia sông, tới thị trấn có mọi thứ về Trevor trừ chính Trevor.
Con không nói với ai là mình về. Con đang ở lớp Văn học Mỹ gốc Ý trong một trường cao đẳng thành phố ở Brooklyn thì thấy, trên điện thoại, một bài đăng mới trên Facebook của Trevor, ông già của cậu đăng. Trevor đã qua đời đêm trước. Thân này như bị xé đôi, thư để lại nói. Xé đôi, đó là ý nghĩ duy nhất con giữ được, trong khi ngồi trên ghế, làm sao mất một ai đó lại nhân thêm chúng ta, những người đang sống, gấp đôi chúng ta lên.
Con nhặt ba lô và rời lớp. Bà giáo, đang giảng một đoạn trong cuốn Thiên Chúa bàn thạch của Pietro di Donato, bèn ngừng lại, nhìn con, chờ một lời giải thích. Khi thấy con không nói gì, bà tiếp tục, giọng bà nhỏ dần sau lưng trong lúc con chạy khỏi tòa nhà. Con đi bộ cả chặng đường lên khu thượng, dọc Bờ Đông, theo chuyến tàu số 6 đến ga Grand Central.
Xé đi - phải, thế đúng hơn. Như trong: Thân này như bị xé đi rồi.
Đèn xe buýt cho cảm giác như ngồi trong phòng nha sĩ lướt đi trên con đường ướt. Một phụ nữ sau lưng con ho húng hắng từng đợt giữa những tràng tiếng Pháp đậm âm sắc Haiti. Cạnh bà là một người đàn ông - là chồng, anh em trai? - gần như không nói gì ngoài lâu lâu lại “ừ hử” hay “Bien, bien”. Trên đường cao tốc, hai hàng cây tháng Mười nhạt nhòa vụt qua, cành nhánh cào lên bầu trời tím thẫm. Giữa cây trước cây sau, mấy cột đèn của các thị trấn vô thanh đứng rũ đầu trong sương. Xe băng qua một cây cầu và một cây xăng bên đường khiến đầu con sáng nhức nhối màu đèn neon.
Khi bóng tối trong xe trở lại, con nhìn xuống lòng và nghe giọng cậu. Cậu nên ở lại. Con ngước lên và nhìn thấy lớp vải bong tróc trên nóc xe cậu, mút vàng lòi ra nơi vết rách, và con lại trở về trên chiếc ghế lái phụ. Đang là giữa tháng Tám và bọn con đậu xe bên ngoài quán Town Line Diner ở Wethersfield. Không khí xung quanh đỏ thẫm, hoặc có lẽ buổi tối nào, trong ký ức của con về cậu, cũng đều hiện ra như thế. Thẫm máu.
“Cậu nên ở lại,” cậu nói, nhìn ra bãi xe, khuôn mặt lấm dầu máy sau ca làm việc tại tiệm Pennzoil ở Hebron. Nhưng cả hai đều biết con sẽ đi. Con đi New York để học đại học. Mục đích của buổi gặp mặt này là để bọn con nói lời từ biệt, hay đúng hơn, chỉ để được ngồi cạnh nhau, một lời chia tay bằng sự hiện diện, bằng gần cận, kiểu tạm biệt xứng danh đàn ông.
Bọn con định đi ăn waffle, “kỷ niệm ngày xưa”, theo lời cậu nói, nhưng khi đến nơi, cả hai đứa đều không nhúc nhích. Bên trong quán, một tài xế xe tải ngồi một mình bên dĩa trứng. Đầu bên kia có đôi vợ chồng trung niên ngồi trong một ngăn riêng, cười giòn giã, tay huơ qua huơ lại trên phần bánh kẹp to quá khổ trước mặt. Có mỗi một cô phục vụ lượn qua lượn lại giữa hai bàn. Khi mưa bắt đầu đổ xuống, lớp kiếng làm họ méo đi, chỉ còn lại những mảng và màu, như trong tranh trường phái ấn tượng.
“Đừng sợ,” giọng cậu vang lên. Cậu nhìn đăm đăm vào những người đang tỏa sáng bên trong quán, vẻ dịu dàng trong giọng cậu giữ con ở lại ghế, ở lại thị trấn bạc màu này. “Cậu thông minh mà,” cậu nói. “Cậu sẽ đập chết ăn thịt New York cho coi.” Giọng cậu lè nhè. Và lúc đó con nhận ra cậu đang phê thuốc. Lúc đó con nhìn ra những vết bầm dọc bắp tay cậu, mạch máu lồi lên và đen thẫm những nơi kim sục sạo vào.
“Ừa,” con nói trong lúc cô phục vụ đứng lên hâm lại cà phê cho bác tài xe tải. “Ừa, Trevor,” như thể con vừa đồng ý nhận một nhiệm vụ.
“Họ già khú đế rồi mà vẫn cố.” Cậu gần như bật cười.
“Ai?” con quay sang cậu.
“Cái đôi vợ chồng kia. Họ vẫn cố vui.” Cậu đang lè nhè, cặp mắt xám như nước trong bồn rửa. “Đang mưa trắng trời trắng đất mà họ thì ở đằng kia ăn thứ bánh kẹp mềm nhũn, cố làm điều đúng.” Cậu khạc vào cái cốc không và khịt mũi, khẽ bật cười mệt mỏi. “Có khi họ nhai đi nhai lại một cái bánh kẹp hàng bao lâu nay.”
Con mỉm cười, không rõ vì sao.
Cậu ngả người trên ghế, để đầu nghiêng sang bên và nở nụ cười mời gọi. Rồi cậu bắt đầu lần tay cởi khóa dây nịt chiếc quần Levi’s.
“Thôi đi, Trev. Cậu phê quắc rồi. Mình đừng làm, OK?”
“Hồi trước mình ghét cậu gọi mình là Trev.” Cậu buông tay, để rơi trên bụng như những bộ rễ bứng khỏi mặt đất. “Cậu nghĩ mình thảm lắm hả?”
“Không,” con thì thầm, quay đầu đi. Con tựa trán lên cửa sổ, nơi bóng phản chiếu của con lửng lơ phía trên bãi đậu xe, mưa rơi xuyên qua nó. “Mình nghĩ cậu chỉ là cậu thôi.”
Khi đó, con không biết đó sẽ là lần cuối con còn thấy cậu, cái sẹo trên cổ bắt màu xanh từ ánh đèn neon trên bảng hiệu quán ăn. Giá được nhìn thấy cái dấu phẩy nhỏ đó lần nữa, được áp môi lên đó, để bóng con cơi dần vết sẹo cho đến khi, cuối cùng, không còn cái sẹo nào để nhìn thấy nữa, chỉ là một vùng tối đều và rộng lớn khép lại bởi môi con. Một dấu phẩy bị chồng lên trên một dấu chấm do cái miệng tạo thành một cách thật tự nhiên. Đó chẳng phải là điều đáng buồn nhất trên đời sao mẹ? Một dấu phẩy bị ép phải trở thành dấu chấm?
“Xin chào,” cậu nói, mà không quay đầu lại. Chẳng bao lâu sau khi gặp nhau, bọn con đã quyết định rằng, bởi khi ấy bạn bè cả hai đã bắt đầu chết vì sốc thuốc, hai đứa con sẽ không bao giờ nói lời tạm biệt hay chúc ngủ ngon.
“Xin chào, Trevor,” con nói, kê sát miệng vào mặt ngoài cổ tay, không để bật thành tiếng. Động cơ giật mạnh, nổ bần bật, sau lưng con người phụ nữ bật ho. Con đã lại trở về trong xe buýt, nhìn chằm chằm cái ghế đan lưới màu da trời trước mặt.
Con xuống xe ở đường Main và lập tức đi về phía nhà Trevor. Con đi như thể sắp trễ hẹn với chính mình, như thể con đang cố bắt kịp. Nhưng Trevor không còn là điểm đến nữa rồi.
Nhận ra, muộn màng, rằng xuất hiện không báo trước ở nhà một cậu con trai đã chết để rồi chỉ được mỗi người cha đang nát ruột ra tiếp thì thật vô nghĩa, nên con cứ đi tiếp. Con tới góc đường Harris và Magnolia, ở đó con quẹo, vì thói quen hay do ma dắt, đi vào công viên, qua ba sân bóng chày, đất cuộn lên đượm mùi và tươi mới dưới đế giày con. Mưa rơi lên tóc, lan xuống mặt và cổ áo. Con guồng chân đi nhanh ra con đường phía bên kia công viên, rồi xuôi theo nó vào một con hẻm cụt, nơi có căn nhà, xám ngoét đến nỗi gần như bị mưa nuốt chửng, xóa nhòa các đường nét vào trong thời tiết.
Ở bậc cửa, con lấy chìa khóa trong ba lô và vặn mở cửa ra. Đã gần nửa đêm. Căn nhà phả vào con một làn hơi ấm, lẫn với mùi nồng nồng ngọt ngào của quần áo cũ. Mọi thứ đều yên ắng. Ti vi ở phòng khách bật sáng nhưng tắt tiếng, tráng một màu xanh lên khắp cái xô pha trống, một gói đậu phộng ăn dở để trên ghế. Con tắt ti vi, đi lên cầu thang, quay về hướng căn phòng. Cửa mở hé, đưa ra ánh sáng cái đèn ngủ hình con sò. Con đẩy cửa mở. Mẹ đang nằm, không phải trên giường mà dưới đất, trên mấy tấm mền gấp ghép lại thành đệm. Làm việc ở tiệm móng đã khiến lưng mẹ căng cứng tới nỗi cái giường giờ quá mềm không thể giữ các khớp của mẹ đúng chỗ suốt giấc ngủ đêm.
Con bò vào kế mẹ trên đệm. Mưa đọng lại trên tóc con lúc này nhỏ xuống lốm đốm trên mấy tấm mền trắng. Con nằm, quay mặt vào giường, lưng đấu lại với lưng mẹ. Mẹ giật mình tỉnh dậy.
“Hả? Con làm gì vậy? Trời đất, sao ướt nhẹp vậy con… đồ mặc gì mà, Chó Con… sao vậy? Có vụ gì vậy con?” Mẹ ngồi dậy, kéo mặt con lại gần. “Con bị sao vậy?” Con lắc đầu, mỉm cười ngớ ngẩn.
Mẹ săm soi con tìm câu trả lời, tìm vết thương, rà tay trên túi con, dưới áo con.
Từ từ, mẹ nằm xuống, xoay người một bên. Khoảng trống giữa mẹ con mình mỏng và lạnh giá như một tấm kiếng cửa sổ. Con quay đi - ngay cả khi điều con muốn nhất lúc này là kể cho mẹ mọi chuyện.
Chính vào những lúc thế này, bên cạnh mẹ, con mới thấy ghen tị với từ ngữ, chúng làm được những điều ta sẽ chẳng bao giờ làm được - chúng kể được hết mọi thứ về bản thân bằng cách chỉ cần đứng yên, bằng cách chỉ cần tồn tại. Tưởng tượng giá con có thể nằm xuống cạnh mẹ và cả cơ thể con, từng tế bào, tỏa ra một ý nghĩa đơn nhất, rõ ràng, không còn là một nhà văn mà chỉ là một từ được đặt xuống cạnh mẹ.
Có một từ Trevor từng kể với con, từ mà cậu học từ Buford, người từng phục vụ trong hải quân ở Hawaii trong chiến tranh Triều Tiên: kipuka. Khoảnh đất được buông tha sau khi nham thạch chảy từ trên đồi xuống - một ốc đảo tạo thành từ những gì sống sót qua cảnh tận thế mini ấy. Trước khi nham thạch tràn xuống, thiêu cháy rêu trên sườn đồi, khoảnh đất nọ chẳng là gì cả, chỉ là một mảnh nhỏ trong một miền xanh thẳm bất tận. Chỉ bằng cách sống sót vượt qua nó mới được nhận cái tên đó. Nằm trên đệm với mẹ, con không thể không muốn chúng ta trở thành kipuka của chính mình, những gì còn lại của chính mình, nhìn thấy được. Nhưng con đủ khôn mà không nghĩ thế.
Mẹ đặt một bàn tay dâm dấp lên cổ con: kem dưỡng mùi oải hương. Tiếng mưa gõ lách tách trên máng xối chạy dọc nhà. “Chuyện gì thế Chó Con? Con có thể nói với mẹ mà. Nào, con làm mẹ sợ đó.”
“Con ghét cậu ấy, mẹ à,” con thì thầm bằng tiếng Anh, biết rằng những lời đó ngăn mẹ tới với con. “Con ghét cậu ấy. Con ghét cậu ấy.” Và bật khóc.
“Xin con, mẹ không hiểu con đang nói gì. Vụ gì vậy?”
Con với tay ra sau, nắm lấy hai ngón tay mẹ, và vùi mặt vào khoảng tối dưới gầm giường. Ở đầu kia, gần tường, xa hẳn khỏi tầm với của bất kỳ ai, bên cạnh một chai nước rỗng, một cái vớ lẻ loi nhăn nhúm phủ bụi. Xin chào.
Mẹ ơi,
Để con bắt đầu lại nhé.
Con viết vì đã trễ rồi.
Vì giờ đã là 9:52 tối một ngày thứ Ba và hẳn là mẹ đang đi bộ về nhà sau ca làm cuối.
Con không ở bên mẹ vì con đang chiến đấu. Cũng là một cách để nói rằng, đã là tháng Hai và tổng thống muốn trục xuất bạn bè con. Khó giải thích lắm.
Lần đầu tiên sau suốt một thời gian dài, con đang cố tin vào thiên đàng, vào một nơi ta có thể ở bên nhau sau khi mọi chuyện đã tàn tan tành.
Người ta nói bông tuyết không cái nào như cái nào - nhưng bão tuyết, nó vùi lấp hết chúng ta ai cũng như ai.
Một người bạn của con ở Na Uy kể con nghe câu chuyện về một họa sĩ đã ra ngoài khi có bão, tìm kiếm đúng sắc xanh mình mong muốn, và không bao giờ trở về.
Con viết cho mẹ vì con không phải người ra đi, mà là người trở lại, tay không.
Mẹ từng hỏi con làm nhà văn là như thế nào. Nên con sẽ kể ra ở đây.
Bảy người bạn của con đã chết. Bốn người chết vì sốc thuốc. Năm, nếu tính cả Xavier, làm lật chiếc Nissan khi chạy chín mươi dặm một giờ sau khi làm một mẻ fentanyl trộn bậy.
Con không ăn mừng sinh nhật nữa.
Hãy cùng con về nhà theo lối xa hơn đi. Quẹo trái ở Walnut, mẹ sẽ thấy quán Boston Market, hồi mười bảy tuổi con đã làm ở đó hết một năm (sau khi nghỉ trang trại thuốc lá). Nơi có ông chủ theo phái truyền bá phúc âm - cái tay có lỗ chân lông trên mũi to đến mức vụn bánh từ bữa trưa thường mắc lại trong đó - không bao giờ cho bọn con nghỉ giải lao. Đói ngấu sau ca làm bảy tiếng, con sẽ chui vào trong tủ đựng chổi và ngấu nghiến cái bánh bắp giấu trong tạp dề đen đồng phục.
Trevor được kê OxyContin sau khi gãy mắt cá chân vì bốc đầu mô tô địa hình trong rừng, một năm trước khi gặp con. Lúc đó cậu mười lăm tuổi.
OxyContin, được Purdue Pharma sản xuất hàng loạt lần đầu tiên vào năm 1996, là một thứ thuốc giảm đau gây nghiện, cơ bản là heroin dạng thuốc viên.
Con chưa bao giờ muốn xây dựng một “khối lượng (body) tác phẩm”, mà chỉ muốn lưu giữ trong tác phẩm những cơ thể (body) này, của chúng ta, đang hít thở và không được kể đến.
Lấy thì lấy không lấy thì thôi. Cơ thể ấy, ý con là vậy.
Quẹo phải vào đường Harris, nơi có căn nhà bị thiêu rụi trong cơn bão vào mùa hè nọ chỉ còn để lại một khoảng đất rào lưới mắt cáo.
Những phế tích thật sự không được viết lại. Cô bé ngoại quen hồi ở Gò Công, người mang đôi dép cắt ra từ lốp chiếc xe jeep quân đội cháy trụi, người đã bị xóa sổ vì một trận không kích ba tuần trước khi chiến tranh kết thúc - cô bé ấy là một phế tích không ai có thể trỏ vào. Một phế tích không có địa điểm, như một ngôn ngữ.
Sau một tháng dùng Oxy, mắt cá chân Trevor lành lại, nhưng cậu đã hoàn toàn trở thành một con nghiện.

