Một Thoáng Ta Rực Rỡ Ở Nhân Gian - Chương 12
Sau bữa sáng, chừng mười giờ, khi con ngồi trước hiên đọc sách, bác Mai nắm cánh tay con. “Tới lúc rồi,” bác nói. Con chớp mắt. “Bà sắp đi rồi.” Bác với con lao vào phòng khách nơi mẹ đang quỳ bên ngoại Lan. Ngoại tỉnh và đang lảm nhảm, mắt đảo tới lui dưới lớp mí khép hờ. Mẹ chạy đi lấy hai lọ aspirin và Advil trên tủ. Như thể thuốc giảm đau còn có ích gì nữa lúc này. Nhưng với mẹ, tất cả đều là thuốc - những món thuốc trước đây đã từng hiệu quả, thế thì sao giờ lại không?
Mẹ ngồi cạnh ngoại, tay mẹ, cuối cùng cũng trống không, bỏ trong lòng. Bác Mai chỉ mấy ngón chân ngoại. “Ngón đang tím lại,” bác nói với vẻ bình thản gai người. “Chân là thứ đi trước tiên - và giờ thì tím rồi. Chỉ còn khoảng nửa tiếng là cùng.” Con nhìn sự sống của ngoại Lan bắt đầu rút dần khỏi cơ thể. Tím, bác Mai đã nói thế, nhưng con không thấy chân ngoại tím. Mà đen, màu nâu cháy ở đầu ngón chân, còn lại là màu xám đen của đá, trừ móng chân thì có màu vàng đục - như là xương vậy. Nhưng chính cái từ tím, cái sắc sẫm lộng lẫy đi kèm với nó, đã tràn ngập trong con. Đó là thứ con thấy lúc con nhìn máu rút khỏi bàn chân đen của ngoại Lan, màu xanh lá bị bao vây bởi những mảng tím trong đầu con, và nhận ra cái từ đó đang lôi con vào một ký ức. Nhiều năm trước, khi con sáu hay bảy tuổi, trong khi đi với ngoại Lan dọc một con đường đất ôm theo cao tốc bên ngoài đường Church, ngoại đột nhiên dừng lại la lên. Con không nghe thấy ngoại giữa tiếng xe cộ. Ngoại chỉ ra hàng rào mắt cáo phân cách cao tốc liên bang với lề đường, mắt mở to. “Coi kìa, Chó Con!” Con khum người, quan sát hàng rào.
“Con không hiểu. Sao vậy ngoại?”
“Không,” ngoại nói, khó chịu, “đứng lên. Nhìn qua hàng rào - kìa - mấy cái hoa tím kia.”
Ngay bên kia hàng rào, bên rìa đường cao tốc, là một vũng hoa tím dại, mỗi bông không lớn hơn đầu ngón tay cái bao nhiêu, với một chấm nhỏ xíu màu trắng vàng nằm giữa. Ngoại Lan khom người, ôm lấy vai con, để mắt con ngang tầm mắt ngoại, vẻ mặt nghiêm túc. “Chó Con, con leo qua được không?” Ngoại nheo mắt lại, làm ra vẻ ngờ vực, chờ đợi. Dĩ nhiên, con gật đầu sốt sắng. Và ngoại đã biết trước là như thế.
“Ngoại đẩy con lên rồi con hái cho lẹ nha?” Con bám vào hàng rào trong lúc ngoại ôm hông con nhấc bổng lên. Sau khi loạng quạng một hồi, con leo lên tới trên đỉnh, vòng một chân qua. Con nhìn xuống và ngay tức thì thấy muốn ói, những bông hoa chẳng hiểu sao lại nhỏ xíu, chỉ là những nét cọ mờ trên một mảng xanh lá loang loáng. Gió từ xe cộ lao qua thổi tung tóc con. “Con không biết được không!” con hét, mắt ngân ngấn nước. Ngoại Lan chụp bắp chân con. “Ngoại ở ngay đây. Ngoại không để con bị gì đâu,” ngoại nói át tiếng xe. “Nếu con té, ngoại sẽ cắn đứt hàng rào cứu con ra.”
Con tin lời ngoại và nhảy, đáp đất lăn một vòng, rồi đứng dậy phủi người. “Lấy hai tay bứng cả rễ luôn.” Ngoại nhăn mặt khi bám lấy hàng rào. “Con phải nhanh lên không thì sinh chuyện đó.” Con nhổ hết bụi này tới bụi khác, rễ cây bung ra khỏi đất trong những đám bụi xám tro. Con quăng cây qua hàng rào, mỗi chiếc xe đi qua lại tạt gió mạnh tới nỗi con suýt té nhào. Con nhổ hoài nhổ mãi và ngoại Lan nhét hết vào cái bịch 7-Eleven.
“OK. OK! Đủ rồi đó.” Ngoại vẫy con trở lại. Con nhảy lên hàng rào. Ngoại Lan với tay lên kéo con xuống, ôm lấy con. Ngoại bắt đầu rung lên, và chỉ khi ngoại đặt con xuống con mới nhận ra ngoại đang cười rinh rích. “Con làm được rồi, Chó Con! Con là thợ săn hoa của ngoại. Thợ săn hoa xuất sắc nhất nước Mỹ!” Ngoại giơ lên một túm cây dưới ánh sáng vàng nâu bụi bặm. “Trưng trên bệ cửa sổ nhà mình là hết sảy.”
Con nhận ra, chính cái đẹp là thứ chúng ta liều mình giành lấy. Đêm đó, khi mẹ về nhà, mẹ chỉ vào chiến lợi phẩm của hai bà cháu, tràn ứa ra dọc theo bệ cửa sổ nâu bê bết đất, những tua xoắn đan vào nhau trên bàn ăn, và hỏi, vẻ ấn tượng, hai bà cháu lấy đâu ra. Ngoại Lan phẩy tay, nói rằng ngoại với con bắt được trước một cửa hàng hoa vứt ngoài lề đường. Con ngước nhìn ngoại từ đống lính đồ chơi, ngoại kê ngón tay lên môi và nháy mắt trong lúc mẹ cởi áo khoác, quay lưng lại với hai bà cháu. Mắt ngoại mỉm cười.
Con không bao giờ biết tên loài hoa đó. Vì ngoại Lan chưa bao giờ gọi tên chúng. Đến ngày nay, mỗi lần thấy một cụm hoa tím nhỏ, con lại thề đấy chính là những bông hoa con đã mang về hôm đó. Nhưng thứ không có tên sẽ bị mất đi. Tuy nhiên, hình ảnh của nó vẫn mãi rõ ràng. Rõ ràng trong màu tím, cái màu giờ đang bò lên đến ống chân ngoại Lan, trong lúc mình ngồi, chờ nó lan khắp người ngoại. Mẹ ngồi gần ngoại và vén đi lọn tóc bết trên khuôn mặt gầy mòn của ngoại, hốc hác như hộp sọ.
“Má có muốn gì không má?” mẹ hỏi, miệng kề tai ngoại. “Má có cần gì tụi con không? Má muốn gì cũng được.”
Bên ngoài cửa sổ, bầu trời một màu xanh giễu cợt.
“Cơm,” con nhớ ngoại nói thế, giọng ngoại lẩn khuất đâu đó sâu bên trong cơ thể. “Một muỗng cơm.” Ngoại nuốt khan, hớp lấy không khí. “Cơm Gò Công.”
Mẹ con mình nhìn nhau - một yêu cầu bất khả. Dù vậy, bác Mai vẫn đứng dậy và biến mất sau tấm mành hạt nhà bếp.
Nửa tiếng sau bác quỳ xuống bên ngoại, một chén cơm nóng bốc khói trong tay. Bác đưa muỗng kề vào cái miệng móm của ngoại. “Ăn nè má,” bác nói, vẻ khắc kỷ, “cơm Gò Công nè má, mới gặt tuần rồi.”
Ngoại Lan nhai rồi nuốt, và một vẻ gì đó giống như nhẹ nhõm lan khắp môi ngoại. “Ngon quá,” ngoại nói, sau miếng cơm duy nhất đó. “Ngọt quá. Gạo xứ mình - ngọt quá.” Ngoại hất cằm chỉ về nơi nào đó xa xăm và chìm vào giấc ngủ.
Hai tiếng sau, ngoại cựa mình tỉnh giấc. Mẹ con mình vây quanh ngoại, nghe một tiếng hít sâu vào phổi, như thể ngoại sắp lặn xuống nước, và rồi, chỉ có thế - không nghe tiếng thở ra. Ngoại chỉ yên đi, như thể ai đó đã nhấn dừng một cuốn phim.
Con ngồi đó trong lúc mẹ và bác Mai, không chút do dự, bắt tay vào việc, cánh tay mẹ chuyển động trên cơ thể bất động của ngoại. Con làm điều duy nhất con biết. Co chân sát ngực, con bắt đầu đếm những ngón chân tím của ngoại. 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5. Con đu đưa người theo các con số trong lúc bàn tay mẹ lơ lửng trên thân ngoại, thành thạo như thể y tá đi buồng. Dù có bao nhiêu vốn từ, sách vở, kiến thức, con vẫn thấy mình gập người sát bức tường phía xa, tan nát. Với sự trì trệ sánh ngang trọng lực, con nhìn hai người con gái chăm lo cho ruột thịt của mình. Con ngồi, với mọi giả thuyết, ẩn dụ và phép tính, Shakespeare và Milton, Barthes, Đỗ Phủ và Homer, những bậc thầy về cái chết, rốt cuộc, cũng không thể chỉ con cách chạm vào người chết của mình.
Sau khi ngoại Lan đã được rửa ráy sạch sẽ và thay đồ, sau khi chăn mền được dọn đi, dịch cơ thể được lau sạch khỏi sàn nhà và thi hài - vì lúc này ngôn ngữ đòi hỏi như vậy: thi hài thay vì bà ngoại - mình lại tụ tập quanh ngoại Lan. Bằng cả mười ngón tay, mẹ cạy cái hàm khép chặt của ngoại, trong khi ở mé bên kia, bác Mai nhét hàm răng giả vào. Nhưng vì lúc này xác đã cứng, cả hàm chập lại trước khi hàng răng cửa kịp khớp vào và cả hàm răng giả văng ra, rớt xuống sàn đánh cạch nghe rất đanh. Mẹ buột ra một tiếng la, nhưng vội lấy tay bịt miệng. “Fuck,” mẹ nói bằng tiếng Anh từ mà mẹ hiếm khi dùng đến, “fuck fuck fuck.” Lần thứ hai, hàm răng khớp vào vị trí, và mẹ sụm người tựa vào tường bên cạnh người mẹ đã chết của mình.
Bên ngoài, một chiếc xe chở rác kêu lanh canh và tít tít xuôi dãy nhà. Vài con bồ câu gù gù trên những cái cây rải rác. Ở dưới đáy tất cả, mẹ ngồi, bác Mai tựa đầu lên vai mẹ, cách chừng mét xác mẹ của hai người đang lạnh dần. Rồi, cằm mẹ rúm lại như hột đào, mẹ vùi mặt xuống hai bàn tay.
Ngoại Lan đã chết được năm tháng, và suốt năm tháng đó đã ở trong một cái hũ cốt trên bàn đầu giường mẹ. Nhưng hôm nay mình đang ở Việt Nam. Tỉnh Tiền Giang, nơi tọa lạc thị xã Gò Công. Đang là mùa hè. Ruộng lúa trải ra quanh mình, xanh ngắt và bất tận như chính biển cả.
Sau đám tang, sau khi các nhà sư mặc cà sa vàng nghệ đã tụng kinh và hát quanh tấm bia đá hoa cương đánh bóng của ngoại, hàng xóm từ trong làng với những khay thức ăn bưng cao quá đầu, những người tóc bạc trắng còn nhớ cuộc đời ngoại Lan đã trải qua ở đây gần ba mươi năm trước, tới ôn chuyện cũ và gửi lời chia buồn. Sau khi mặt trời lặn xuống dưới ruộng lúa và những gì còn lại chỉ là mộ phần - đất quanh rìa mới lật lên vẫn còn ẩm, rơi đầy hoa cúc trắng - con gọi cho ông Paul ở Virginia.
Ông thỉnh cầu một việc con không ngờ tới, đó là mong được nhìn thấy ngoại. Con cầm laptop đi vài mét ra tới chỗ ngôi mộ, đủ gần nhà để bắt được ba vạch Wi-Fi.
Con đứng, laptop chìa ra trước mặt, và hướng khuôn mặt Paul vào mộ của ngoại Lan, bia mộ ốp một tấm hình ngoại hồi hai mươi tám tuổi, tầm độ tuổi họ lần đầu gặp nhau. Con chờ sau màn hình trong lúc người cựu binh Mỹ gọi Skype với bà vợ cũ người Việt ly biệt từ lâu, vừa được chôn xuống đất. Đến một lúc, con tưởng tín hiệu bị ngắt, nhưng rồi nghe thấy Paul xì mũi, những câu thốt ra què cụt, run rẩy trong lúc ông cố gắng nói lời chia tay. Ông nói với gương mặt mỉm cười trên tấm bia, rằng ông xin lỗi. Xin lỗi đã trở về Virginia năm 71 sau khi nghe tin mẹ mình lâm bệnh. Và rằng mọi thứ chỉ là kế để đưa ông về nhà, rằng mẹ ông giả bị lao cho tới khi tuần chuyển thành tháng, cho tới khi chiến tranh dần khép lại và Nixon ngừng đưa lính sang và người Mỹ bắt đầu rút về. Rằng mọi lá thư Lan gửi đều bị anh của Paul tịch thu. Rằng phải tới một ngày nọ, vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, một người lính vừa từ mặt trận trở về mới gõ cửa nhà đưa cho ông một lá thư từ Lan. Kể chuyện Lan và hai cô con gái phải rời thủ đô sau khi chính quyền sụp đổ. Và họ sẽ lại biên thư cho ông sau. Ông nói xin lỗi vì đã mất quá lâu mới làm được điều đó. Vì đến khi tổ chức Salvation Army gọi ông để báo tin có một phụ nữ có giấy chứng nhận kết hôn với tên ông trên đó ở trại tị nạn bên Philippines đang tìm ông, thì đã là năm 1990. Khi đó, ông đã kết hôn với một phụ nữ khác được hơn tám năm rồi. Ông nói toàn bộ chuyện này bằng một thứ tiếng Việt lắp bắp, tuôn trào - mà ông học được trong thời gian đóng quân và tích lũy trong suốt cuộc hôn nhân của họ - cho tới khi lời của ông không còn nghe ra được dưới những tiếng nấc khan.
Vài đứa trẻ làng đã tụ tập ở rìa khu mộ, những khuôn mặt tò mò bối rối thấp thoáng trong khóe mắt con. Bọn chúng hẳn thấy con rất lạ, ôm trên tay cái đầu điện tử của một ông da trắng đứng trước một dãy mộ phần.
Lúc con nhìn khuôn mặt Paul trên màn hình, nhìn người đàn ông ăn nói dịu dàng, người lạ biến thành ông ngoại biến thành gia đình này, con nhận ra con biết ít thế nào về gia đình mình, về đất nước của mình, về bất cứ đất nước nào. Đứng bên con đường đất, không khác với con đường ngoại Lan đã từng đứng gần bốn mươi năm trước, một khẩu M-16 chĩa vào mặt trong lúc đang bồng mẹ, con chờ tới khi giọng ông ngoại con, người thầy giáo đã về hưu, người ăn chay, người trồng cần, người yêu thích bản đồ và Camus này, nói nốt những lời cuối với mối tình đầu của mình, rồi đóng nắp máy lại.
Ở Hartford nơi con lớn lên và nơi mẹ già đi, mình chào nhau không phải bằng “Xin chào” hay “Khỏe không?” mà bằng cách hỏi, hất hàm, “Tốt chớ hả?” Con đã nghe câu này ở những vùng miền khác của đất nước, nhưng tại Hartford, nó xâm nhập mọi nơi mọi chỗ. Giữa những tòa nhà bịt ván, trống trơn, những khu sân chơi giữa hàng rào kẽm gai gỉ sét và vặn xoắn tới độ trông như thể là những sản phẩm của thiên nhiên, hữu cơ như dây leo, chúng ta đã tạo ra hệ từ vựng của riêng mình. Một cụm từ dùng bởi những kẻ dưới đáy nền kinh tế, nó cũng được dùng ở Đông Hartford và New Britain, nơi những gia đình da trắng, loại người đôi khi bị gọi là bụi đời rơ moóc, lố nhố nguyên cả nhà trên những hàng hiên xập xệ trong các bãi cắm nhà di động và các khu nhà cho dân thu nhập thấp, những gương mặt hốc hác vì OxyContin khuất dưới khói thuốc lá, được rọi sáng bởi đèn pin treo bằng dây câu dùng thay cho đèn hiên, hú lên, “Tốt chớ hả?” lúc mẹ đi ngang qua.
Ở Hartford của con, nơi những người cha đều như bóng ma, thoắt ẩn thoắt hiện trong cuộc đời con cái họ, như chính ba của con. Nơi những người bà, abuela, aba, nana, baba và bà ngoại là vua, mũ miện không là gì ngoài những mẩu kiêu hãnh mót nhặt lẫn tự chế cùng các tuyên bố cứng đầu của lưỡi họ, trong lúc họ đứng chờ trên những khớp gối kêu cót két và bàn chân sưng phồng ngoài cửa các cơ quan dịch vụ xã hội để được hỗ trợ dầu và phương tiện sưởi ấm, cơ thể bốc mùi dầu thơm mua ở nhà thuốc và kẹo cứng bạc hà, những chiếc áo khoác quá cỡ màu nâu mua ở Goodwill bám lớp tuyết mới rơi trong lúc họ túm tụm đi dọc dãy nhà trong mùa đông - con trai và con gái họ hoặc đang đi làm hoặc đang ở tù hoặc đã sốc thuốc chết hoặc cứ thế biến mất, bắt những chiếc Greyhound đi xuyên đất nước với giấc mơ cai nghiện, làm lại cuộc đời, nhưng rồi lu mờ dần chỉ còn là huyền thoại của gia đình.
Ở Hartford của con, nơi những công ty bảo hiểm đã biến chúng ta trở thành thành phố lớn kéo nhau bỏ đi hết khi Internet xuất hiện, và những bộ óc xuất chúng nhất bị hút đến New York hay Boston. Nơi ai cũng có một người anh em họ cháu chú cháu bác ở trong băng Latin Kings. Nơi trạm xe buýt vẫn bán áo len đội Whalers hai mươi năm sau khi đội Whalers đã té khỏi nơi này để trở thành đội Carolina Hurricanes. Hartford của Mark Twain, Wallace Stevens và Harriet Beecher Stowe, những nhà văn mà trí tưởng tượng mênh mông cũng không thể giữ lại, dù là trong thịt da hay bằng mực, những cơ thể như của chúng ta. Nơi có nhà hát Bushnell và câu lạc bộ Wadsworth (chỗ tổ chức triển lãm hồi cố về Picasso đầu tiên ở Mỹ) được viếng thăm chủ yếu bởi những người ngoài từ ngoại ô đến đây, giao xe cho nhân viên đậu xe rồi hối hả vào trong khán phòng ấm cúng dưới ánh đèn halogen trước khi lái xe trở về những thị trấn ngái ngủ nhan nhản các cửa hàng Pier 1 Imports và Whole Foods. Hartford, nơi ta ở lại trong khi những người Việt di cư khác chạy tới California hay Houston. Nơi ta chằm đắp một thứ cuộc sống bươi móc qua từng mùa đông khắc nghiệt, nơi những cơn xoáy thuận nuốt chửng xe ta trong đêm. Những tiếng súng lúc hai giờ sáng, những tiếng súng lúc hai giờ chiều, những bà vợ và bạn gái tính tiền ở C-Town với đôi mắt tím bầm và bờ môi rách sẹo, đáp trả lại ánh nhìn của ta bằng cách vênh cằm lên, như thể muốn nói, Đừng có mà bao đồng.
Vì sống trong vùi dập là điều đã được hiểu, đã được coi là đương nhiên, đó là lớp da ta mang sẵn trên người. Hỏi Tốt chớ hả? chính là, ngay lập tức, chuyển tới niềm vui. Đó là gạt sang bên điều không thể tránh khỏi để chạm tới thứ trái lệ thường. Không vĩ đại, cũng không xuất sắc hay là tuyệt vời, chỉ là tốt thôi. Vì tốt thường đã là quá đủ, là một tia lửa quý báu chúng ta tìm và nhặt về từ nhau và cho nhau.
Ở đây, tốt là tìm được một đồng đô la mắc kẹt dưới đường cống, là khi vào sinh nhật ta mẹ ta có đủ tiền để thuê một bộ phim với mua một cái pizza năm đô từ quán Easy Frank’s và cắm tám cây đèn cầy lên lớp pepperoni cùng phô mai tan chảy. Tốt là khi biết có bắn nhau mà anh trai ta lại về được nhà, hay vẫn đang ngồi bên cạnh ta, đang tấn công một tô nui ống phô mai.
Đó là từ mà Trevor nói với con đêm đó, khi chúng con leo khỏi dòng sông, những giọt nước tối đen nhểu xuống từ trên tóc và đầu ngón tay. Cánh tay cậu choàng qua bờ vai run rẩy của con, cậu áp miệng vào tai con và nói, “Cậu vẫn tốt mà. Nghe không, Chó Con? Cậu tốt, mình thề. Cậu tốt.”
Sau khi mình chôn hũ cốt của ngoại Lan, lau bóng mộ phần của ngoại một lần cuối bằng giẻ lau thấm sáp và dầu nhớt, mẹ con mình trở về khách sạn ở Sài Gòn. Vừa bước vào căn phòng cáu bẩn với cái máy lạnh cà giật, mẹ liền tắt hết đèn. Con khựng lại, không chắc nên hiểu sao về cái bóng tối đột ngột ập xuống này. Chỉ mới đầu giờ chiều, vẫn còn nghe tiếng còi và tiếng xe máy bình bịch trên con đường bên dưới. Giường kêu cót két, mẹ đã ngồi xuống.
“Mẹ đang ở đâu?” mẹ nói. “Đây là đâu?”
Không biết phải nói gì khác, con gọi tên mẹ.
“Rose,” con nói. Bông hoa, màu, sắc. “Hồng,” con lặp lại. Bông hoa chỉ được ngắm khi bước vào chặng cuối của cuộc đời, chỉ vừa nở ra và đã bắt đầu trên đường trở thành thứ giấy nâu. Và có lẽ mọi cái tên đều chỉ là ảo ảnh. Bao nhiêu lần ta đặt tên cho thứ gì đó theo trạng thái ngắn ngủi nhất của nó? Bụi hồng, mưa, bướm, rùa đớp, đội hành hình, tuổi thơ, cái chết, tiếng mẹ đẻ, mẹ, con.
Chỉ khi nói ra cái tên đó con mới nhận ra rằng rose cũng là thì quá khứ của rise. Rằng gọi tên mẹ cũng là con đang bảo mẹ đứng lên. Con nói ra như thể đó là lời đáp duy nhất cho câu hỏi của mẹ - như thể một cái tên cũng là âm thanh mà ta có thể được tìm thấy bên trong. Mẹ đang ở đâu? Mẹ đang ở đâu? Mẹ là Hồng. Mẹ đã đứng lên.
Con chạm vào vai mẹ dịu dàng như Trevor đã chạm vào con lúc ở dưới sông. Trevor, một người nổi loạn như thế, lại không chịu ăn thịt bê, không chịu ăn thịt bò con. Giờ con nghĩ về những đứa bé đó, bị tách khỏi mẹ và cho vào những cái hộp vừa cỡ cuộc đời chúng, được cho ăn và vỗ béo thành những miếng thịt mềm. Con lại đang nghĩ về tự do, khoảnh khắc tự do nhất của con bê là khi cửa chuồng mở ra và nó được đưa lên xe chở đến lò mổ. Mọi tự do đều tương đối - mẹ biết quá rõ - và đôi khi chẳng có tự do nào cả, mà chỉ là cái chuồng mở rộng ra xa khỏi ta, những chấn song mờ đi vì khoảng cách nhưng vẫn còn đó, như khi người ta “thả tự do” cho động vật hoang vào những khu bảo tồn tự nhiên chỉ để giam chúng tiếp tục trong những rào chắn rộng hơn. Nhưng con vẫn chấp nhận điều đó, sự mở rộng đó. Vì đôi khi không nhìn thấy chấn song đã là đủ rồi.
Trong vài khoảnh khắc mê man ở nhà kho cùng Trevor, cái chuồng quanh con trở nên vô hình, dù con biết nó không bao giờ biến mất. Niềm hân hoan của con trở thành cái bẫy khi con mất kiểm soát những gì bên trong cơ thể. Chất thải, cứt, phân là thứ trói buộc người sống, nhưng luôn hiện diện và vĩnh hằng trong cái chết. Khi bọn bê cuối cùng cũng bị giết, hành động cuối cùng của chúng thường là thải hết những gì bên trong, bộ ruột bị sốc do kết thúc đến quá chóng vánh đột ngột.
Con siết cổ tay mẹ và gọi tên mẹ.
Con nhìn mẹ và thấy, qua bóng tối mịt mùng, đôi mắt của Trevor - Trevor mà khuôn mặt đã bắt đầu nhòa đi trong tâm trí con - đôi mắt rực cháy dưới ánh đèn nhà kho trong lúc bọn con mặc quần áo, run rẩy vì nước sông. Con thấy đôi mắt ngoại Lan trong những giờ phút cuối cùng, như những giọt nước khẩn khoản, đấy là thứ duy nhất ngoại có thể máy động. Như đôi mắt đen nở to của con bê lúc cửa chuồng mở ra, và nó lao khỏi nhà tù về phía người đàn ông cầm sẵn dây chuẩn bị tròng quanh cổ nó.
“Mẹ đang ở đâu, Chó Con?” Mẹ là Rose. Mẹ là Lan. Mẹ là Trevor. Như thể một cái tên có thể không chỉ là một thứ, vừa sâu vừa rộng như một đêm có chiếc xe tải nổ máy ở bên rìa, và mẹ có thể bước luôn ra khỏi chuồng, nơi bên ngoài có con đợi mẹ. Nơi, dưới những vì sao, chúng ta cuối cùng cũng thấy ta biến nhau thành gì dưới ánh sáng của những thứ đã chết từ lâu - và chấp nhận thế là tốt.
Con có nhớ cái bàn. Nhớ cái bàn làm bằng lời kể thốt ra từ miệng mẹ trao lại cho con. Con nhớ căn phòng bốc cháy. Căn phòng bốc cháy vì ngoại Lan kể về lửa. Con nhớ ngọn lửa đúng như những gì được nghe kể trong căn hộ ở Hartford, cả nhà mình ngủ trên sàn gỗ, quấn mình trong những tấm mền được Salvation Army đem cho. Con nhớ cái ông ở Salvation Army đưa cho ba một xấp coupon KFC, mà mình gọi là Gà chiên Ông Già (mặt Đại tá Sander in trên mọi cái thùng đỏ). Con nhớ mình cắn ngập vào phần thịt giòn và dầu mỡ như thể đó là món quà từ các thánh. Con nhớ mình học được rằng các thánh chỉ là những con người có nỗi đau đáng lưu truyền, được lưu truyền. Con nhớ mình đã nghĩ rằng mẹ và ngoại Lan đáng được phong thánh.
“Nhớ nha,” mẹ nói mỗi sáng trước khi mình bước ra bầu không khí lạnh lẽo của Connecticut, “đừng gây chú ý. Con đã sẵn là người Việt Nam rồi.”
Đó là ngày đầu tiên của tháng Tám và bầu trời trong veo phía trên Trung Virginia, lúc này xanh mướt cây mùa hạ. Mẹ con mình đi thăm ông ngoại Paul để ăn mừng con tốt nghiệp đại học mùa xuân vừa qua. Mình đang ở trong vườn. Những sắc màu đầu tiên của buổi tối rơi xuống hàng rào gỗ và mọi thứ nhuốm màu hổ phách, như thể mình đang ở trong một quả cầu tuyết đổ đầy nước trà. Mẹ đằng trước con, đang đi về phía hàng rào đằng xa, chiếc sơ mi hồng mẹ mặc thoắt lẫn vào thoắt lọt ra khỏi bóng râm. Nó nhuộm vào, rồi lại gột đi bóng đen dưới những tán cây sồi.
Con nhớ về ba, tức là con đang dựng lại hình ảnh của ba. Con đang dựng lại hình ảnh ba trong một căn phòng bởi vì phải có một căn phòng nào đó. Phải có một khối vuông trong đó cuộc sống diễn ra, thoáng chốc, dù có hay không có niềm vui. Con có nhớ niềm vui. Là tiếng tiền xu trong túi giấy nâu: đồng lương của ba sau một ngày đánh vảy cá trong cái chợ người Hoa ở Cortland. Con nhớ những đồng xu đổ ra sàn, còn mẹ con mình xúc ngón tay vào những miếng kim loại lạnh ngắt, hít hà mùi đồng hứa hẹn. Nhớ mình đã nghĩ rằng mình giàu có. Cái ý nghĩ rằng mình giàu có cũng là một thứ niềm vui.
Con nhớ cái bàn. Nhớ là nó hẳn được làm bằng gỗ.
Khu vườn tươi tốt đến mức dường như phập phồng dưới ánh ngày tàn. Rau quả trồng kín từng phân một, dây cà chua mập mạp che khuất cả giàn lưới mắt cáo chúng bám vào, cỏ lúa mì và cải xoăn chen chúc trong bồn nước inox có kích cỡ ngang chiếc ca nô. Những bông hoa con nay đã biết tên: mộc lan, thạch thảo, anh túc, cúc vạn thọ, cẩm chướng - tất cả, từng sắc thái đều hòa làm một trong hoàng hôn.
Chúng ta là gì nếu không phải thứ mà ánh sáng chỉ định cho mình?
Chiếc sơ mi hồng của mẹ sáng lên trước mặt con. Mẹ khom người, lưng thăng bằng trong lúc mẹ săm soi gì đó trên mặt đất giữa hai chân. Mẹ vuốt tóc ra sau tai, dừng lại, quan sát nó kỹ hơn. Chỉ có từng giây chuyển động giữa hai mẹ con mình.
Một đàn muỗi mắt, tấm voan rủ xuống trước một khuôn mặt vô hình. Mọi thứ ở đây đều có vẻ như vừa dứt cơn phun trào, và giờ cuối cùng cũng chịu nghỉ ngơi, đã tiêu hao và mệt lử từ sự căng tràn của mùa hè. Con đi tới chỗ mẹ.
Con nhớ mình đi bên mẹ tới tiệm tạp hóa, tiền lương của ba trong tay mẹ. Nhớ rằng, khi đó, ba mới đánh mẹ hai lần thôi - tức là vẫn còn hy vọng đó là lần cuối. Con nhớ những túi Wonder Bread ôm đầy tay và những lọ mayo, nhớ mẹ tưởng mayo là bơ, nhớ ở Sài Gòn, bơ và bánh mì trắng chỉ được ăn trong những biệt thự có quản gia trông giữ và cổng thép tường cao. Con nhớ mọi người mỉm cười khi đã về nhà, đưa bánh kẹp mayo lên những đôi môi nứt nẻ. Con nhớ mình đã nghĩ rằng nhà mình chẳng khác gì đang sống trong biệt thự.
Con nhớ mình đã nghĩ rằng đây là Giấc mơ Mỹ trong lúc tuyết rơi lộp độp lên cửa sổ và màn đêm buông xuống, và cả nhà mình nằm xuống ngủ, cạnh nhau, chân tay lẫn lộn, bụng đầy bánh mì và “bơ”, trong lúc tiếng còi báo động réo rắt trên đường.
Trong nhà, Paul ở trong bếp cúi người bên một tô pesto: những lá húng quế to dày, bóng bẩy, những tép tỏi đập giập bằng dao, hạt thông, hành tây nướng đến khi phần rìa vàng rộm đen lại, và cái mùi thơm mát của vỏ chanh. Cặp kiếng đóng sương lúc ông cúi người, cố giữ yên bàn tay viêm khớp để đổ pasta nóng bốc khói vào hỗn hợp kia. Đảo nhẹ một chút bằng hai cái muỗng gỗ, là những miếng nui hình nơ đã được tắm đều trong nước xốt xanh rêu.
Cửa sổ trong nhà bếp đọng hơi sương, khiến khung cảnh khu vườn chuyển thành một màn hình chiếu bóng trống trơn. Đã đến lúc gọi thằng nhóc và mẹ nó vào. Nhưng Paul còn lưu lại một lúc, nhìn tấm toan trắng. Một người đàn ông, cuối cùng, chẳng còn thứ gì trong tay, chờ mọi thứ bắt đầu.
Con nhớ cái bàn, tức là con đang dựng lại hình ảnh của nó. Vì đã có ai đó mở miệng và dựng nên một kiến trúc bằng từ ngữ và giờ con đang làm điều tương tự mỗi lần con nhìn bàn tay mình và nghĩ bàn, nghĩ những khởi đầu. Con nhớ mình rà ngón tay quanh mép, quan sát những ốc vít và vòng đệm con tạo ra trong đầu. Con nhớ mình bò xuống gầm, ngó quanh tìm bã kẹo gum, tên của những đôi tình nhân, nhưng chỉ thấy những vệt máu khô, vụn gỗ. Con nhớ con quái vật bốn chân này gõ ra một thứ ngôn ngữ con vẫn chưa nắm được.
Một con bướm, nhuộm hồng bởi giờ chiều, đậu lên một nhánh cỏ ngọt, rồi đập cánh bay đi. Ngọn cỏ búng một cái, rồi đứng yên. Con bướm chập chờn bay qua quãng sân, cánh nó tựa góc một trang trong cuốn Sula của Toni Morrison mà con đã gấp nếp quá nhiều lần khiến cái mép gập đó rời ra vào một buổi sáng ở New York, phấp phới rơi xuống đại lộ ướt át vào mùa đông. Đó là đoạn Eva đổ xăng lên người đứa con trai nghiện ngập của mình và quẹt diêm, một hành động xuất phát từ tình yêu và lòng thương xót mà con vừa hy vọng mình có thể làm được - vừa hy vọng mình không bao giờ phải biết tới.
Con nheo mắt. Đó không phải bướm vua - chỉ là một vệt mờ trắng yếu ớt sẽ chết trong cơn sương giá đầu tiên. Nhưng con biết đàn bướm vua ở gần thôi, những đôi cánh cam và đen đã gấp lại, lấm bụi và hun trong hơi nóng, sẵn sàng chạy về phương Nam. Từng sợi một, hoàng hôn thêu mép rìa ta đỏ rực.
Một đêm ở Sài Gòn, hai ngày sau khi chôn ngoại Lan, con nghe tiếng nhạc í éo và tiếng trẻ con the thé qua ban công khách sạn. Lúc ấy đã gần hai giờ sáng. Mẹ đang ngủ trên nệm cạnh con. Con đứng dậy, mang sandal vào đi ra ngoài. Khách sạn nằm trong hẻm. Mắt điều tiết theo bóng đèn huỳnh quang gắn trên tường, con đi tới chỗ có tiếng nhạc.
Đêm sáng rực lên trước mắt con. Người người đột nhiên xuất hiện khắp nơi, một khung cảnh vạn hoa đầy màu sắc, quần áo, chân tay, trang sức và kim sa ánh lên những tia lấp lánh. Xe đẩy bán dừa tươi, xoài gọt, xôi hấp trong những nồi inox lớn được xúc ra thành từng vốc mềm chảy gói lại bằng lá chuối, nước mía đựng trong bịch nylon cắt góc, có thằng bé đang kê miệng mút lấy một bịch, cười tít mắt. Một người đàn ông, tay gần như đen vì sạm nắng, ngồi chồm hỗm trên đường. Ông ta đang cúi người trên cái thớt không lớn hơn lòng bàn tay mình, chặt đôi con gà nướng bằng đúng một nhát chém gọn gàng, rồi phân phát những miếng thịt trơn lùi cho nguyên một bầy con nít hóng đợi.
Giữa những dây đèn treo gần chạm đất từ ban công hai bên đường, con nhác thấy một sân khấu dựng tạm. Trên sân khấu, một nhóm phụ nữ ăn mặc diêm dúa xoay tròn, cánh tay là những dải băng đầy màu sắc phất phơ trong gió, họ đang hát karaoke. Giọng họ vang xa và lan khắp con đường. Gần đó, kê trên bàn ăn bằng nhựa trắng là một cái ti vi nhỏ đang hiện lời một bài nhạc pop Việt những năm tám mươi.
Con đã sẵn là người Việt Nam rồi.
Con lượn lại gần hơn, vẫn mơ màng ngái ngủ. Dường như thành phố đã quên mất thời gian lúc này - hay đúng hơn, quên mất chính khái niệm thời gian. Theo con biết thì không có lễ hội hay dịp gì để ăn mừng. Thực tế, ở ngay đầu ngõ dẫn ra đường lớn, đường sá trống trơn, vắng hoe, đúng như cái giờ khuya khoắt này. Mọi náo động đều gói gọn trong một dãy nhà. Nơi mọi người cười và hát. Trẻ con, nhiều đứa mới năm tuổi, chạy len qua những người lớn đang lắc lư. Các bà già mặc đồ bộ in hoa ngồi trên ghế nhựa bên bậc cửa, tăm ngậm trong miệng, đầu chỉ ngừng lắc lư theo điệu nhạc khi cần la mắng đám trẻ quanh mình.
Ở dưới đất, ngoại Lan đã là người Việt Nam.
Chỉ khi tới gần nhìn thấy mặt họ, những quai hàm bạnh và vuông, những vầng trán thấp dồ, con mới nhận ra những ca sĩ này là nam hóa trang nữ. Những bộ cánh kim sa của họ, với kiểu dáng đa dạng và các màu cơ bản, lấp lánh dữ dội tới nỗi dường như họ đang mặc trên người chính những vì sao thu nhỏ.
Con nhớ về ba, tức là con đang còng ba lại bằng những từ ngữ nhỏ bé này. Con đang trao ba cho mẹ, hai tay quặp ra sau lưng, đầu cúi xuống chui vào trong xe tuần tra, bởi vì cũng như cái bàn, chuyện này được trao cho con qua cách ấy: qua những cái miệng chưa bao giờ đọc lên những âm thanh trong một cuốn sách.
Bên phải sân khấu có bốn người đang xoay lưng lại với tất cả. Đầu cúi thấp, chỉ có họ là không nhúc nhích - như thể bị nhốt trong một căn phòng vô hình. Họ nhìn vào thứ đặt trên cái bàn nhựa dài trước mặt, đầu cúi thấp tới nỗi trông như những thân người mất đầu. Lát sau, một người trong bọn họ, một bà già tóc bạc, dựa đầu lên vai người thanh niên bên phải - và khóc nức nở.
Con nhớ mình nhận được một lá thư từ ba khi ba đang ở tù, phong bì rúm ró, mép tưa đi. Con nhớ mình cầm lên một tờ giấy với từng dòng từng dòng chữ bị xóa trắng ở nơi từ ngữ của ông bị cai tù kiểm duyệt. Con nhớ mình cạo lên lớp màng trắng chắn giữa ba và con. Những từ ngữ đó. Những con ốc và bu lông của cái bàn. Một cái bàn trong căn phòng không người.
Con tiến lại gần, và đến lúc đó con mới thấy, nằm trên bàn, yên thin thít, hình dáng không thể lẫn vào đâu của một thân người phủ vải trắng. Đến lúc này, cả bốn người tang quyến đã nức nở không còn kìm nén, trong khi trên sân khấu, giọng gió của các ca sĩ vút lên qua tiếng thổn thức của họ.
Bụng cồn cào, con nhìn lên bầu trời không sao. Một máy bay chớp đèn đỏ, rồi trắng, rồi nhòa đi sau một màn mây.
Con nhớ mình săm soi lá thư của ba và thấy những chấm đen nhỏ xíu rải rác: những dấu chấm câu không bị động đến. Một ngôn ngữ riêng làm bằng im lặng. Con nhớ mình đã nghĩ mỗi người con từng yêu là một dấu chấm độc nhất trên một tờ giấy ngời sáng. Con nhớ mình vẽ một đường từ chấm này sang chấm kia, trên mỗi chấm có một cái tên, nối cho tới khi con có được một cây gia phả trông giống như hàng rào kẽm gai. Con nhớ mình xé vụn nó thành mảnh nhỏ.
Sau này con mới biết đây là một cảnh tượng thường thấy vào đêm Sài Gòn. Các nhân viên nhà xác thành phố, luôn trong cảnh thiếu kinh phí, không phải lúc nào cũng trực hai bốn trên bảy. Khi có người chết vào giữa đêm, người ấy bị kẹt trong một lâm bô thành thị, nơi xác chết phải ở yên trong cái chết của mình. Kết quả là, một cuộc vận động tự phát được hình thành, như thứ thuốc trị thương cộng đồng. Hàng xóm, sau khi biết về cái chết đột ngột đó, trong vòng một giờ, sẽ góp tiền và mướn một nhóm biểu diễn giả gái để giúp “chia buồn”.
Ở Sài Gòn, tiếng nhạc và trẻ con chơi đùa vào đêm hôm thế này là dấu hiệu của cái chết - hay đúng hơn, dấu hiệu của một cộng đồng đang cố hồi phục.
Chính nhờ những người trình diễn hóa trang nữ với trang phục diêm dúa và cử chỉ khoa trương, gương mặt bự phấn và giọng nói đai dài, những người xâm phạm cái cấm kỵ về giới tính, mà qua cảnh diễn phô trương đó, sự an ủi được thể hiện ra. Dù họ giúp ích bao nhiêu, được trả công nhiều thế nào và được trao quyền ra sao, như một dịch vụ thiết yếu trong một xã hội nơi lệch chuẩn tính dục vẫn còn là tội, thì đám diễn viên giả nữ này, chừng nào mà người chết còn chưa liệm, vẫn là một màn trình diễn khác loài. Sự lừa dối giả định và tin cậy được mà họ khoác lên là cái khiến cho sự hiện diện của họ thành cần thiết, đối với tang gia. Vì nỗi đau, ở tận cùng, vốn luôn phi thực. Và nó đòi hỏi một cách hồi đáp siêu thực. Những người giả gái ấy - trong hoàn cảnh này - chính là những con ngựa một sừng.
Đoàn ngựa một sừng giậm chân trong nghĩa địa.
Con nhớ cái bàn. Nhớ ngọn lửa bắt đầu liếm quanh mép bàn.
Con nhớ lễ Tạ ơn đầu tiên. Con ở nhà Junior. Ngoại Lan đã làm cho con một dĩa chả giò kiểu Mỹ để mang qua. Con nhớ một căn nhà chật ních hơn hai mươi người. Những người hay đập bàn khi cười. Con nhớ đồ ăn chất lên dĩa của mình: khoai tây nghiền, gà tây, bánh bắp, lòng heo, rau xanh, bánh khoai lang, và… chả giò. Ai cũng ca ngợi món chả giò của ngoại Lan lúc chấm với xốt thịt. Con nhớ con cũng chấm chả giò với xốt thịt.
Con nhớ mẹ Junior đặt một cái dĩa nhựa tròn màu đen lên một cái máy gỗ. Nhớ cái dĩa tròn quay vòng vòng cho tới khi âm nhạc cất lên. Nhớ âm nhạc là tiếng một phụ nữ khóc than. Nhớ mọi người đều nhắm mắt lại và nghiêng đầu như thể đang lắng nghe một thông điệp bí mật. Con nhớ đã nghĩ là mình đã nghe cái này rồi, từ mẹ và bà ngoại con. Phải. Con đã nghe thấy nó từ khi còn trong bụng. Đó là bài hát ru tiếng Việt. Nhớ mọi bài ru đều bắt đầu bằng tiếng khóc than, như thể cơn đau không thể thoát ra khỏi cơ thể theo bất kỳ đường nào khác. Con nhớ mình lắc lư trong lúc lắng nghe giọng bà ngoại rù rì qua cái máy. Nhớ ba của Junior vỗ vai con. “Con biết gì về Etta James?” Con nhớ niềm vui.
Con nhớ năm đầu tiên học tại một ngôi trường Mỹ, chuyến đi tới trang trại, và sau đó, thầy Zappadia cho mỗi học sinh một tấm tranh phô tô trắng đen vẽ một con bò. “Hôm nay mấy con thấy sao thì tô màu vào,” thầy nói. Con nhớ mình thấy mấy con bò buồn rầu khi ở trang trại, mấy cái đầu to đùng gục xuống phía sau hàng rào điện. Và bởi vì con mới lên sáu, con nhớ mình đã tin rằng màu sắc là một dạng niềm vui - nên con lấy những màu sáng nhất trong hộp sáp màu và tô con bò buồn bã của mình màu tím, cam, đỏ, đỏ nâu, cánh sen, xám hợp kim, hồng lồng đèn, xám trang kim, xanh chuối.
Con nhớ thầy Zappadia đã hét lên, bộ râu run lên trên đầu con còn một bàn tay lông lá giật lấy con bò cầu vồng của con vò nát giữa các ngón tay. “Thầy nói là tô như con thấy.” Con nhớ mình phải tô lại. Con nhớ mình để trắng con bò và nhìn ra cửa sổ. Nhớ bầu trời xanh và tàn nhẫn. Nhớ con ngồi đó, giữa đám cùng lớp - phi thực.
Trên con đường đó, bên cạnh con người không còn sự sống nhưng không hiểu sao lại có vẻ linh hoạt trong tĩnh lặng còn hơn cả người sống, bên mùi hôi thường hằng của nước thải và triều cường chảy dọc theo đường cống, mắt con nhòa đi, màu sắc hòa lẫn vào nhau dưới mí mắt. Người đi ngang trao con những cái gật đầu thương cảm, tưởng con là người trong gia đình kia. Lúc con lau mặt, một ông trung niên bóp gáy con, như mấy ông cha chú người Việt thường làm khi muốn truyền sức mạnh cho con cháu mình. “Rồi con sẽ gặp lại bà thôi. Nào, nào,” giọng ông khàn khàn và gắt mùi rượu, “rồi con sẽ được gặp lại bà mà.” Ông vỗ lên gáy con. “Đừng khóc. Đừng khóc.”
Người đàn ông này. Người đàn ông da trắng này. Người tên Paul này, người mở cánh cửa gỗ của vườn, để chốt kim loại va lanh canh sau lưng, không phải ông ngoại con nhờ máu mủ - mà nhờ hành động.
Tại sao ông lại tình nguyện đi Việt Nam trong khi bao nhiêu người con trai khác chạy sang Canada để trốn lính? Con biết ông chưa bao giờ kể với mẹ - vì ông sẽ phải giải thích về cái tình yêu trừu tượng và khôn nguôi cho kèn trompet bằng một ngôn ngữ mà ông chỉ biết lõm bõm. Về mơ ước, theo lời ông cho biết, được trở thành “một Miles Davis da trắng” đến từ vùng nông thôn Virginia hẻo lánh với những cánh đồng bắp bạt ngàn. Về những nốt kèn trompet dày vang vọng khắp ngôi nhà trang trại hai tầng thời ông còn nhỏ. Căn nhà mà những cánh cửa bị rứt toạc khỏi bản lề bởi người cha giận dữ lao qua các phòng làm cả gia đình hoảng loạn. Người cha mà mối liên hệ duy nhất với Paul là kim loại: vỏ đạn ghim vào trong não của ông già từ cái ngày ông ta đổ bộ lên bãi biển Omaha; kèn đồng được Paul nâng lên môi để tạo ra âm nhạc.
Con nhớ cái bàn. Nhớ con đã từng cố trao lại nó cho mẹ. Nhớ mẹ ôm con trong vòng tay và chải tóc cho con, nói, “Nào nào. Không sao đâu. Không sao đâu.” Nhưng đây là nói dối.
Chuyện xảy ra thế này thì đúng hơn: con trao cho mẹ cái bàn - tức là con đưa cho mẹ con bò bảy sắc cầu vồng của con, đã lôi ra khỏi thùng rác khi thầy Zappadia không chú ý. Các màu sắc chuyển động và nhăn nhúm trong tay mẹ. Con cố nói với mẹ nhưng lại không có thứ ngôn ngữ mà mẹ hiểu được. Mẹ có hiểu không? Con đã từng là một vết thương hở miệng giữa đất Mỹ và mẹ ở bên trong con hỏi rằng, Mình đang ở đâu? Mình đang ở đâu hả con?
Con nhớ mình nhìn mẹ thật lâu và, bởi vì con lên sáu, con nghĩ chỉ cần nhìn thật chăm chú là có thể cứ thế truyền ý nghĩ của mình vào đầu mẹ. Con nhớ mình khóc vì giận dữ. Vì mẹ không biết gì cả. Vì mẹ vẫn đưa tay xuống dưới áo mà gãi lưng cho con. Con nhớ mình ngủ thiếp đi như thế, đã bình tĩnh lại - con bò nhăn nhúm trải ra trên bàn đầu giường như cảnh quay chậm một quả bom màu đang phát nổ.
Paul chơi nhạc để trốn đi xa - và khi ông già ông xé nát tờ đơn đăng ký đi học trường âm nhạc, thì Paul còn đi xa hơn, thẳng tới văn phòng đăng ký nhập ngũ, để rồi thấy mình, vào tuổi mười chín, ở Đông Nam Á.
Người ta nói chuyện gì cũng có lý do của nó - nhưng con không thể nói cho mẹ hay vì sao ngưồi chết luôn nhiều hơn người sống.
Con không thể nói mẹ hay vì sao có những con bướm vua, trên đường về phương Nam, lại cứ thế ngừng bay, cánh đột nhiên quá nặng, không hoàn toàn thuộc về chúng nữa - và chúng rơi xuống, xóa bản thân khỏi câu chuyện.
Con không thể nói mẹ hay, trên con đường Sài Gòn đó, trong lúc thi hài nằm dưới tấm khăn, vì sao con cứ nghe, không phải bài hát mà những ca sĩ giả gái đang hát, mà bài hát bên trong con. “Cơ man là nhiều, kể nhiêu cho xiết, những thằng muốn tìm tao đòi giết.” Con đường rung lên và xoay tròn những sắc màu đã bị xé thành từng dải quanh con.
Trong cảnh náo động, con nhận thấy cái xác đã dịch chuyển. Cái đầu nghiêng qua một bên, kéo theo tấm khăn phủ và do đó để lộ ra phần gáy - đã trắng bệch. Và kia, ngay dưới tai, không lớn hơn móng tay bao nhiêu, là một cái bông tai ngọc lủng lẳng rồi ngừng. “Chúa ơi, ông có biết, nước mắt thằng này không còn rơi, đầu nó chẳng còn ngẩng lên trời. Xin hãy rủ lòng thương xót với. Mắt lấm máu, tao chẳng thấy, mày ơi.”
Con nhớ mẹ nắm lấy vai con. Nhớ trời đang mưa tầm tã hay đổ tuyết hay con đường bị ngập hay bầu trời màu tím bầm. Và mẹ đang quỳ trên lề đường vừa cột lại đôi giày màu xanh phấn của con vừa nói, “Nhớ nha. Nhớ nha. Con đã sẵn là người Việt Nam rồi.” Con đã sẵn. Con đã sẵn sàng.
Con đã đi rồi.
Con nhớ lề đường, nhớ mẹ con mình đẩy cái xe gỉ sét tới nhà thờ và trạm phát chẩn trên đại lộ New Britain. Con nhớ lề đường. Nhớ nó bắt đầu rỉ máu: những giọt đỏ nhỏ xuất hiện bên dưới xe đẩy. Một vệt máu ở trước mặt mình. Và sau lưng mình. Ai đó hẳn đã bị bắn hoặc đâm đêm trước. Con nhớ mình cứ tiếp tục đi. Mẹ nói, “Con đừng có nhìn xuống. Đừng nhìn xuống.” Nhà thờ ở thật xa. Tháp chuông chỉ là một cái mũi kim trên bầu trời. “Đừng nhìn xuống. Đừng nhìn xuống.”
Con nhớ Đỏ. Đỏ. Đỏ. Đỏ. Hai bàn tay mẹ ướt đẫm trên tay con. Đỏ. Đỏ. Đỏ. Đỏ. Tay mẹ nóng rực. Tay mẹ tay con. Con nhớ mẹ nói, “Chó Con, nhìn lên kia. Kia kìa. Thấy không? Con có thấy mấy con chim trên cây không?” Con nhớ đó là tháng Hai. Những cái cây đen nhẻm và trụi lá dưới nền trời âm u. Nhưng mẹ cứ nói: “Nhìn kìa! Chim. Đủ màu luôn. Chim xanh. Chim đỏ. Chim hồng. Chim kim tuyến.” Ngón tay mẹ chỉ lên mớ cành nhánh cong queo. “Con thấy cái tổ mấy con non vàng kia không, con mẹ màu xanh lá đang cho đàn con ăn sâu đó?”
Con nhớ đôi mắt mẹ mở to. Con nhớ mình nhìn mãi nhìn mãi theo đầu ngón tay mẹ cho tới khi, cuối cùng, một vệt xanh ngọc lờ mờ trở thành sự thực. Và con thấy. Những con chim. Con thấy hết. Thấy chúng chín bừng như trái cây trên cành trong lúc miệng mẹ há ra khép lại và từ ngữ không ngừng tô màu những cái cây. Con nhớ mình quên đi máu. Con nhớ mình không một lần nhìn xuống.
Phải, đã có chiến tranh. Phải, mình bước ra từ chấn tâm của nó. Trong cuộc chiến đó, có một người phụ nữ tặng cho mình cái tên mới - Lan - và qua việc đó tuyên bố mình xinh đẹp, rồi khiến vẻ đẹp đó trở thành một thứ đáng giữ gìn. Từ đó, một đứa con gái ra đời, và từ đứa con gái đó, một thằng con trai.
Suốt thời gian qua con tự nhủ mẹ con mình sinh ra từ chiến tranh - nhưng con đã nhầm rồi mẹ à. Mình sinh ra từ cái đẹp.
Đừng để ai nhầm chúng ta là trái quả sinh ra từ bạo lực - mà hãy để họ biết rằng thứ bạo lực đó, dù đã càn qua quả, vẫn không làm hỏng được nó.
Paul ở sau lưng con bên cánh cổng, nhíp lấy một chậu lá bạc hà để trang trí xốt pesto. Kéo của ông cắt xoèn xoẹt cuống lá. Một con sóc nhanh nhảu leo xuống từ một cây sung dâu gần đó, ngừng lại ở gốc cây, hít ngửi không khí, rồi lại lộn trở lên, biến mất vào trong cành lá. Mẹ ở ngay trước mặt khi con tiến lại; bóng của con chạm đến gót chân mẹ.
“Chó Con,” mẹ nói mà không quay lại, mặt trời đã khuất khỏi khu vườn từ lâu, “ra đây coi nè.” Mẹ chỉ vào mặt đất dưới chân, thốt khẽ. “Coi có ghê không?”
Con nhớ căn phòng. Nhớ nó cháy lên vì ngoại Lan hát về lửa, hai cô con gái ngoại vây quanh. Khói bốc lên và tụ lại trong các góc. Cái bàn ở giữa là một ngọn lửa sáng rực. Ba người đàn bà với cặp mắt nhắm và lời ca tàn nhẫn. Những bức tường là màn hình những hình ảnh chuyển động, thoắt đổi mỗi lần khổ trước chuyển sang khổ tiếp theo: một giao lộ đầy nắng trong một thành phố không còn tồn tại. Một thành phố không tên. Một người da trắng đứng cạnh cỗ xe tăng với cô con gái tóc đen trong vòng tay. Một gia đình ngủ trong hố bom. Một gia đình trốn dưới gầm bàn. Mẹ có hiểu không? Tất cả những gì con được trao cho chỉ là một cái bàn. Một cái bàn thay vì một ngôi nhà. Một cái bàn thay vì lịch sử.
“Có một căn nhà ở Sài Gòn,” mẹ kể với con. “Một đêm, ba con nhậu xỉn về nhà đánh mẹ lần đầu tiên bên bàn bếp. Con hẵng còn chưa ra đời.”
Nhưng con vẫn nhớ cái bàn đó. Nó tồn tại và không tồn tại. Một di sản ráp lại chỉ bằng miệng trơn. Và các danh từ. Và tàn tro. Con nhớ cái bàn đó như một mảnh vỡ cắm vào trong não. Nhớ vài người sẽ gọi nó là mảnh đạn. Và vài người khác sẽ gọi là nghệ thuật.
Con giờ đang ở bên cạnh mẹ lúc mẹ chỉ xuống đất, ngay cạnh ngón chân, nơi, một tổ kiến tràn ra trên khoảnh đất, một cơn lũ chuyển động màu đen dày đặc tới nỗi trông như cái bóng của một người không chịu hiện hữu. Con không thể nhìn ra từng con một - cơ thể chúng nối vào nhau trong một cơn lũ động chạm không ngừng, mỗi con chữ sáu chân xanh thẫm dưới ánh hoàng hôn - những mảnh vụn của một bảng chữ cái mai một bởi thời gian. Không, đây thì không phải bướm vua. Đây là những kẻ mà, khi mùa đông đến, sẽ ở lại, sẽ biến da thịt thành hạt giống và vùi mình xuống sâu hơn - chỉ để lại tràn ra qua lớp đất màu mỡ mùa xuân ấm áp, muốn ngốn ngấu tất cả.
Con nhớ những bức tường cong lại như tấm toan khi ngọn lửa bừng bừng. Trần nhà cuồn cuộn khói đen. Con nhớ mình bò tới bên bàn, mà lúc này là một đống tro than, rồi nhúng ngón tay vào đó. Những móng tay con đen đặc đất nước con. Đất nước con tan ra trên đầu lưỡi. Con nhớ mình gom lại một vốc tro và viết chữ sống sống sống trên trán ba người đàn bà ngồi trong phòng. Nhớ lớp tro từ từ cứng lại thành mực trên trang giấy trắng. Nhớ tro có cả trên chính trang giấy này. Có đủ cho tất cả mọi người.
Mẹ đứng lên, phủi quần. Đêm xóa mọi màu sắc khỏi khu vườn. Mẹ con mình đi về phía ngôi nhà, không còn bóng theo chân. Vào nhà, dưới ánh sáng của những ngọn đèn khuất dưới chao, mình xắn tay áo, rửa tay. Mình nói chuyện, cẩn thận không để ánh nhìn nấn ná nơi đối phương - rồi, khi giữa cả hai không còn lời nào vương lại, mình bày đồ ra bàn.
Con nghe thấy nó trong mơ. Rồi, mở mắt, con lại nghe âm thanh đó - tiếng khóc than trầm thấp lan khắp cánh đồng vừa gặt. Một con thú. Chỉ một con thú mới có cơn đau rõ ràng, rành rọt thế này. Con đang nằm trên sàn đất mát rượi của nhà kho. Trên đầu con, từng hàng cây thuốc lá đang phơi, chân tay quệt vào nhau trong luồng gió lẻ loi - thế có nghĩa đã là tuần thứ ba của tháng Tám. Vào qua những tấm ván mở lên, một ngày mới, chưa chi đã đậm đặc cái nóng mùa hè. Âm thanh quay trở lại và lần này con ngồi dậy. Phải tới khi thấy cậu con mới biết mình đã lại mười lăm tuổi. Trevor nằm ngủ bên con. Nằm nghiêng, cánh tay làm gối, cậu có vẻ như đang chìm vào suy nghĩ hơn là đang ngủ. Hơi thở của cậu chậm và thư giãn, thoang thoảng mùi bia Pabst mà bọn con uống vài tiếng trước; chai không xếp thành hàng trên băng ghế trên đầu cậu. Cách chừng một mét là cái nón lính sắt, lật ngửa, hứng lấy ánh ngày màu xanh phấn.
Vẫn chỉ mặc quần đùi, con đi ra ngoài và bước vào màn sương rộng lớn. Tiếng hú trở lại, trầm và rỗng, như thể nó có các bức tường bao quanh, một nơi ta có thể trốn vào. Hẳn nó bị thương. Chỉ có thứ gì đang đau đớn mới phát ra được thứ âm thanh ta có thể bước vào.
Con tìm khắp cánh đồng bằng phẳng; sương bảng lảng trên mặt đất nâu đã xỉn màu. Không có gì. Hẳn là từ trang trại kế bên. Con đi tới, độ ẩm tăng lên, thái dương con ngứa ngáy mồ hôi.
Ở cánh đồng kế, những cây thuốc lá cuối cùng, mập mạp và xanh thẫm, còn một tuần nữa là tới ngày thu hoạch, vươn mình tứ phía - cách nào đó còn cao hơn bình thường, ngọn cây vừa vượt quá đầu con. Kia là cây sồi mà bọn con hai tuần nữa sẽ đâm nát chiếc Chevy. Bọn dế vẫn chưa rứt chân ra và giờ đang cưa xẻ bầu không khí đặc quánh trong lúc con tiến vào sâu hơn, ngừng lại mỗi khi tiếng rống vang lên, lớn hơn, gần hơn.
Đêm qua, dưới rầm nhà, môi tê đi và mệt lử vì bị dùng đến quá nhiều, bọn con nằm thở. Cách nhau bóng tối lặng yên, con hỏi Trevor điều ngoại Lan hỏi con tuần trước.
“Cậu có bao giờ nghĩ về mấy con trâu trên kênh Discovery không? Ý mình là, chuyện chúng cứ lao xuống vực á?”
Cậu quay sang con, hàng ria mỏng cọ lên cánh tay con. “Mấy con trâu?”
“Ừ, chúng cứ chạy tới như vậy, ngay cả khi mấy con trước mặt mình rơi xuống? Ta cứ nghĩ sẽ có ít nhất một con phải dừng lại, phải quay đầu.”
Tay cậu, cháy nắng vì lao động, lại thẫm đến bất ngờ khi đặt trên bụng cậu. “Ừ. Mình có thấy bọn nó trên mấy chương trình về tự nhiên. Tụi nó cứ rớt xuống như một đống gạch. Rớt thẳng xuống.” Cậu tặc lưỡi kinh tởm nhưng giọng khẽ dần. “Ngu thiệt.”
Bọn con nằm yên, để những con trâu tiếp tục rớt xuống, hàng trăm con lặng lẽ bước khỏi vách đá trong đầu. Đâu đó ở cánh đồng kế bên, một chiếc bán tải chạy vào lối đi, sỏi dưới lốp xe, ngọn đèn pha quét qua nhà kho soi sáng đám bụi lửng lơ trên mũi bọn con, cặp mắt nhắm của cậu - cặp mắt, con biết, đến lúc đó không còn xám nữa - mà là cặp mắt của Trevor. Cánh cửa đóng sầm và ai đó về đến nhà, có thể nghe thấy những tiếng nói thì thầm, một điệu bổng lên duy nhất khi câu hỏi cất lên, “Thế nào?” hay “Đói không?” Một câu gì đó đơn giản và thiết yếu, vậy nhưng vẫn đặc biệt, nhờ vẻ ân cần, một giọng nói như những mái che tí xíu trên các bốt điện thoại dọc đường tàu, ghép bằng chính loại ngói lợp mái nhà, có điều chỉ rộng bốn hàng ngói - vừa đủ che cho điện thoại khỏi ướt. Và có lẽ đó là tất cả những gì con muốn - được hỏi han và được câu hỏi ấy che cho, như một cái mái rộng vừa đủ thân người con.
“Chúng không có quyền quyết,” Trevor nói.
“Chúng nào?”
“Đám trâu đần đó.” Cậu gảy mặt kim loại trên dây nịt. “Chúng không có quyền quyết sẽ đi đâu. Mà là Mẹ Thiên Nhiên. Bả bảo chúng nhảy thì chúng nhảy. Chúng không có lựa chọn. Chỉ là quy luật tự nhiên thôi.”
“Quy luật,” con thì thào lặp lại. “Kiểu như chúng chỉ đi theo những đứa chúng yêu quý, như gia đình chúng cứ lao tới nên chúng đi theo?”
“Ừ, đại loại như vậy,” cậu nói giọng ngái ngủ. “Như một gia đình. Một gia đình chết chắc.”
Ngay lúc đó, một niềm thương mến đột ngột dành cho cậu bỗng trào dâng, một cảm giác thật hiếm thấy trong con hồi đó, đến nỗi cảm giác cứ như con đang bị nó đặt nhầm chỗ. Cho tới khi Trevor kéo con về.
“Nè,” cậu ngái ngủ nói, “trước khi gặp mình thì cậu thế nào?”
“Mình nghĩ mình đang chết chìm.”
Ngừng.
“Và giờ thì cậu sao?” cậu thì thầm, chìm xuống.
Con nghĩ một giây. “Mình là nước.”
“Dẹp mẹ đi.” Cậu đấm vào tay con. “Ngủ đi, Chó Con.” Rồi cậu im lặng.
Rồi hàng mi của cậu. Có thể nghe thấy chúng suy nghĩ.
Con không biết vì sao con đi theo tiếng con thú bị thương đó, nhưng con bị kéo đi, như thể được hứa hẹn một câu trả lời cho câu hỏi mà con chưa có. Người ta nói nếu mình muốn gì đó thật mãnh liệt thì mình sẽ thành ra tôn nó lên làm chúa. Nhưng nếu tất cả những gì con muốn chỉ là cuộc sống này thì sao hả mẹ?
Con lại nghĩ về cái đẹp, về việc một số thứ bị săn đuổi bởi vì ta cho là chúng đẹp. Nếu đời sống một cá thể là quá ngắn ngủi, so với lịch sử hành tinh này, chỉ một cái chớp mắt, như người ta nói, vậy thì được rực rỡ, cho dù suốt từ ngày ta sinh ra đến ngày ta chết đi, là rực rỡ chỉ trong một thoáng. Như ngay lúc này, mặt trời đang lên là là bên dưới hàng cây du, và con không phân biệt nổi đâu là bình minh và đâu là hoàng hôn nữa. Thế giới, đỏ dần lên, trước mắt con đều như nhau cả - và con cũng chẳng còn biết đâu là Đông đâu là Tây. Sắc màu của buổi sáng nay phớt vẻ sờn mòn của một thứ đã bắt đầu ra đi. Con nghĩ về lúc Trev và con ngồi trên nóc lán dụng cụ, nhìn mặt trời lặn xuống. Con ngạc nhiên không phải là vì hiệu ứng của nó - vì chỉ trong vài phút bị nghiến nát, nó thay đổi cách mọi vật được nhìn nhận, kể cả chúng ta - mà vì con lại có bao giờ được nhìn nó trên đời. Bởi vì hoàng hôn, như việc sống còn, chỉ tồn tại bên rìa sự biến mất của chính nó. Để rực rỡ, trước tiên mình phải được nhìn thấy, nhưng được nhìn thấy cũng tức là cho phép bản thân trở thành con mồi.
Con lại nghe tiếng nó kêu, giờ thì tin rằng nó là một con bò cái. Các chủ trại thường bán bê buổi tối, đưa đi trên thùng xe trong khi bò mẹ ngủ trong chuồng sao cho chúng không tỉnh giấc kêu khóc đòi con. Vài con sẽ khóc nhiều đến nỗi cổ họng chúng sưng bít lại và người ta phải đưa một quả bóng vào trong bơm lên để làm giãn cơ cổ.
Con đến gần hơn. Cây thuốc lá cao nghêu. Khi nó lại khóc than, âm thanh rẽ đôi thân cây và lá rung rẩy. Con tiến lại khoảng đất trống nơi nó nằm. Ánh sáng sủi bọt xanh trên đỉnh ngọn cây. Con nghe hai lá phổi lớn của nó phập phồng lấy hơi, nhẹ nhưng rõ như gió. Con vạch những thân cây mọc san sát nhau và bước tới.
“Mẹ ơi? Kể chuyện lại cho con đi.”
“Mẹ mệt rồi con ơi. Mai nha. Ngủ đi con.”
“Con đâu có ngủ.”
Đã qua mười giờ và mẹ vừa về từ tiệm móng. Mẹ quấn khăn quanh tóc, da vẫn ấm vì vừa tắm xong.
“Đi mà mẹ, kể nhanh thôi. Chuyện về con khỉ á.”
Mẹ thở dài, chui vào trong mền. “Được rồi. Nhưng lấy cho mẹ điếu thuốc.”
Con rút một điếu từ gói thuốc trên bàn đầu giường, đặt vào giữa môi mẹ và châm lửa. Mẹ hút một, hai hơi. Con lấy điếu thuốc ra, nhìn mẹ.
“OK, để coi. Ngày xửa ngày xưa có ông Tề Thiên…”
“Không mẹ. Chuyện thật kìa. Đi mà mẹ. Kể chuyện thật đó.”
Con cho điếu thuốc lại vào miệng mẹ, đợi mẹ hút.
“OK.” Mẹ nhìn khắp căn phòng. “Ngày xửa ngày xưa - xích lại đây, có muốn nghe không hả? Ngày xửa ngày xưa, ở quê mình, có những người ăn óc khỉ.”
“Mẹ sinh năm con khỉ. Nên mẹ là con khỉ.”
“Ừ, chắc là vậy,” mẹ thì thầm, nhìn xa xăm. “Mẹ là con khỉ.”
Điếu thuốc lập lòe giữa những ngón tay con.
Sương bốc lên từ đất ấm lúc con bước qua luống cây. Bầu trời mở ra, cây thuốc lá rũ xuống, để lộ một vòng tròn không lớn hơn dấu vân tay chúa.
Nhưng không có gì ở đây. Không bò, không âm thanh, chỉ có những con dế còn sót lại, giờ đã xa xăm, cây thuốc lá lặng yên trong bầu không khí sớm mai. Con đứng, chờ âm thanh kia biến con thành sự thật.
Không có gì.
Con bò, trang trại, chàng trai, chiếc xe bị đâm nát, cuộc chiến - có phải con đã tự bịa ra tất cả, trong cơn mơ, chỉ để thức giấc và thấy nó ăn sâu vào da mình?
Mẹ, con không biết liệu mẹ có đọc thư đến được đây không - hay thậm chí mẹ có đọc được chữ nào không. Mẹ luôn nói con rằng giờ mẹ học đọc thì đã quá trễ, gan thì yếu, xương thì mỏi mệt, rằng sau tất cả những gì mẹ đã trải qua, mẹ chỉ muốn nghỉ ngơi. Rằng biết đọc là một đặc quyền mẹ kiếm được cho con bằng những gì mẹ đánh mất. Con biết mẹ tin vào đầu thai. Con không biết mình có tin không nhưng con mong là nó có thật. Bởi vì như vậy có lẽ lần tới mẹ sẽ trở lại đây. Có lẽ mẹ sẽ là một cô bé và có lẽ tên mẹ sẽ lại là Rose, và mẹ sẽ có một căn phòng đầy sách, có cha mẹ kể chuyện cho mẹ nghe trước giờ đi ngủ, trong một đất nước không bị chiến tranh chạm tới. Có lẽ khi đó, trong cuộc đời đó và ở tương lai này, mẹ sẽ tìm thấy cuốn sách này và sẽ biết chuyện gì xảy ra cho mình. Và mẹ sẽ nhớ được con. Có lẽ.
Không vì cớ gì, con bắt đầu chạy, qua khoảng đất trống, trở vào bóng râm cứng đờ của những cây thuốc lá. Chân con mờ đi thành một cơn gió nhỏ bên dưới thân người, con chạy. Dù cho những người con quen vẫn chưa ai chết cả, Trevor chưa, ngoại Lan chưa, cả những đứa bạn con cũng chưa, hồng phiến và heroin chưa kịp chạm tới tĩnh mạch còn chưa dấu sẹo. Dù cho trang trại vẫn chưa bị bán để lấy đất cất những tòa chung cư sang trọng, căn nhà kho chưa bị dỡ bỏ, gỗ chưa được đem tái sử dụng để đóng thành đồ đạc vintage hay ốp tường cho những quán cà phê sang chảnh ở Brooklyn, con chạy.
Con chạy và nghĩ mình sẽ vượt qua tất cả, ý muốn thay đổi của con mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ phải sống nơi con. Ngực con ướt đầm, lá cào vào ngực, rìa ngày mới ngún khói, con lao qua nhanh tới nỗi có cảm giác như cuối cùng con đã bứt ra khỏi cơ thể này, bỏ lại nó sau lưng. Nhưng khi con quay lại để nhìn thằng nhóc đang thở dốc, để cuối cùng cũng tha thứ cho nó, vì đã cố gắng trở nên tốt mà thất bại, thì ở đó lại không có ai - chỉ có những cây du sừng sững không lay động ở rìa cánh đồng. Rồi, không vì cớ gì, con chạy tiếp. Con nghĩ tới bầy trâu ở đâu đó, có lẽ là Bắc Dakota hay Montana, vai rập rờn trong cảnh phim quay chậm lúc chúng chạy đuổi nhau tới mép vực, những cơ thể nâu tắc nghẽn ở khe núi hẹp. Mắt chúng đen bóng, những cái sừng xương mượt như nhung bám đầy bụi, chúng cắm đầu chạy tới, cùng nhau - cho tới khi chúng trở thành những con nai sừng tấm khổng lồ, đầy đủ gạc, lỗ mũi ướt phùng to, rồi biến thành chó, chân cào đất chồm về mép vực, lưỡi liếm lấy ánh sáng, cho tới khi, cuối cùng, chúng biến thành khỉ đuôi dài, nguyên một đàn khỉ. Nắp sọ bị mở toang, óc bị rút rỗng, chúng lơ lửng, lông trên tay chân mịn và mềm như lông vũ. Và ngay khi con đầu tiên bước ra khỏi mép vực, giẫm vào không trung, vào cái hư vô thăm thẳm bên dưới, chúng bùng cháy thành một đàn bướm vua như những tia lửa màu đỏ pha hoàng thổ. Hàng mấy ngàn con bướm tràn ra mép, đập cánh bay vào bầu không khí trắng tinh, như một tia nước máu đổ ầm xuống nước. Con lao qua cánh đồng như thể mép vực của con chưa từng được viết vào trong câu chuyện này, như thể con chẳng hề nặng hơn những từ tạo thành tên con. Và như từ ngữ, con không có chút trọng lượng nào trong thế giới này nhưng vẫn gánh theo cuộc đời mình. Và con quăng nó ra trước mặt cho tới khi cái con bỏ lại sau lưng trở thành chính cái con đang chạy tới - như thể con thuộc về một gia đình.
“Vậy sao mấy người đó không bắt mẹ?” Con đặt lại điếu Marlboro lên miệng mẹ.
Mẹ giữ tay con yên đó một lúc, thở ra, rồi chuyển điếu thuốc qua giữa các ngón tay mình. “Ồi, Chó Con,” mẹ thở dài. “Chó Con, Chó Con ơi.”
Khỉ, nai, bò, chó, bướm, trâu. Ta sẵn sàng đánh đổi bao nhiêu để cuộc sống bị tàn hại của động vật có thể kể một câu chuyện con người - trong khi chính cuộc đời chúng ta lại là câu chuyện về động vật.
“Sao mấy người đó không bắt mẹ? À, vì mẹ nhanh quá đó con. Có những con khỉ quá nhanh, cứ như ma vậy, con biết không? Bụp một cái,” mẹ xòe tay ra diễn tả một vụ nổ nhỏ, “đã biến mất rồi.” Đầu không nhúc nhích, mẹ nhìn con, như những người mẹ vẫn nhìn mọi thứ - quá lâu.
Rồi, không vì cớ gì, mẹ bật cười.
Thì quá khứ của sing (hát) không phải singed (cháy sém).
- Hoa Nguyen

