Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 3
LỜI NGUYỀN CỦA NỀN VĂN MINH
01
Vậy quan điểm Jean-Jacques Rousseau về bản chất con người có đúng không? Có phải bản chất con người là cao thượng và tất cả những điều chúng ta làm đều tốt đẹp, cho tới khi nền văn minh xuất hiện?
Tôi bắt đầu có ấn tượng với quan điểm này. Hãy xem phần miêu tả dưới đây, do một lữ khách đến bờ biển Bahamas ghi lại vào năm 1492. Khi đặt chân lên đảo, ông rất ngạc nhiên vì thấy cư dân nơi đây rất hiền lành. “Họ không mang vũ khí, và cũng không hề biết vũ khí là gì, vì khi tôi cho họ xem một thanh gươm… họ đã tự làm đứt tay mình do chẳng biết gì.” Việc này khiến cho ông nảy ra một ý: “Họ sẽ trở thành những nô lệ rất tốt… Chỉ với năm mươi người, chúng tôi có thể chinh phục và bắt tất cả những người trên đảo làm bất kì điều gì chúng tôi muốn.”[1]
Christopher Columbus – lữ khách được nhắc đến – không mất nhiều thời gian để hiện thực hóa kế hoạch của mình. Vào năm sau đó ông trở lại đảo với 17 con tàu cùng 1.500 người, và bắt đầu nghề buôn bán nô lệ xuyên đại dương. Nửa thế kỉ sau, chưa đầy 1% dân cư Carib bản địa còn sót lại; số còn lại không chịu nổi những điều đáng sợ của bệnh tật và chế độ nô dịch.
Đó quả là một cú sốc với những người được gọi là nguyên thủy khi gặp phải những kẻ thực dân tự cho mình là “văn minh”. Với một số người, quan niệm rằng một người có thể bắt cóc hay giết hại người khác thật lạ lẫm và vô lí. Nếu bạn thấy điều này thật khó tin thì hãy lưu ý rằng, ngày nay, vẫn có nhiều nơi coi việc giết người là chuyện không thể hiểu nổi.
Chẳng hạn, trên vùng biển rộng lớn của Thái Bình Dương, có một đảo san hô nhỏ xíu gọi là Ifalik. Sau Thế chiến thứ Hai, Hải quân Hoa Kỳ quay một vài bộ phim Hollywood trên hòn đảo để tăng cường thiện chí với người Ifalik. Nhưng hóa ra đó lại là thứ kinh hoàng nhất mà người dân đảo từng thấy. Những cảnh quay bạo lực đã gây sốc cho người dân bản địa, họ cảm thấy sợ hãi, thậm chí một số người sau khi xem những cảnh quay đó còn đổ bệnh vài ngày liền.
Mấy năm sau, một nhà nhân chủng học đến đảo Ifalik để thực hiện điền dã, người dân bản địa hỏi đi hỏi lại bà: Chuyện đó có thật không? Có thật sự là có những người ở Mỹ giết hại người khác không?[2]
Vậy là bí mật này nằm ngay trung tâm lịch sử loài người. Nếu trong bản năng chúng ta có một mối ác cảm sâu sắc với bạo lực, thì mọi việc xấu đi ở chỗ nào? Nếu chiến tranh có một sự khởi đầu thì nguyên nhân nào khiến nó bắt đầu?
Thứ nhất, có một ghi chép cảnh báo về cuộc sống thời tiền sử: chúng ta phải đề phòng việc vẽ một bức tranh quá lãng mạn về tổ tiên của mình. Con người chưa bao giờ là những thiên thần. Đố kị, giận dữ và thù hận là những cảm xúc vốn ảnh hưởng xấu đến chúng ta. Thời nguyên thủy, sự oán giận cũng sôi sục. Và nói một cách công bằng, giống loài Homo puppy sẽ không bao giờ chinh phục được thế giới nếu chúng ta không, hoặc họa hoằn, phạm tội.
Để hiểu được nội dung vừa đề cập bên trên, bạn cần có những hiểu biết nhất định về chính trị tiền sử. Về cơ bản, tổ tiên của chúng ta dị ứng với sự bất bình đẳng. Việc đưa ra quyết định là vấn đề của cả nhóm, đòi hỏi suy xét lâu dài và tất cả mọi người phải có tiếng nói. Một nhà nhân chủng học người Mỹ, dựa trên cơ sở 339 nghiên cứu điền dã, cho biết: “Hầu hết mọi cư dân du mục đều bận tâm – và gần như là ám ảnh – đến việc được tự do trước quyền lực của những người khác.”[3]
Trong trường hợp người du mục chấp nhận, họ phân biệt quyền lực giữa mọi người là tạm thời và phục vụ cho một mục đích. Các nhà lãnh đạo am hiểu, hoặc khéo léo, hoặc có sức lôi cuốn hơn. Tức là họ có khả năng thực hiện được một công việc nhất định. Các nhà khoa học nhắc đến điều này như là bất bình đẳng dựa trên thành tích.
Đồng thời, những xã hội này sử dụng một vũ khí đơn giản để bắt các thành viên tự nguyện tuân theo đó là: sự xấu hổ. Nhà nhân chủng người Canada, Richard Lee từng mô tả về cuộc sống của người !Kung ở sa mạc Kalahari, nhằm chứng minh rằng điều này có thể hiệu quả như thế nào đối với tổ tiên của chúng ta. Dưới đây là câu chuyện của một thành viên bộ lạc về việc một thợ săn thành công được kì vọng cư xử như thế nào:
“Ban đầu ông ấy ngồi im lặng cho tới khi có ai đó tới chỗ đống lửa của ông ấy và hỏi, “Hôm nay bác nhìn thấy gì?” ông khẽ trả lời, “À, tôi không giỏi săn bắt. Tôi chẳng thấy gì cả… Có lẽ chỉ một con vật nhỏ xíu.” Sau đó, tôi mỉm cười vì biết rằng ông ấy đã giết được con gì đó rất lớn.”[4]
Xin đừng hiểu sai ý tôi – niềm tự hào hay lòng tham đều tồn tại từ rất lâu. Và trong hàng nghìn năm, giống loài Homo puppy đã làm mọi điều có thể để gạt bỏ những khuynh hướng này. Như một thành viên của bộ lạc !Kung đã diễn tả: “Chúng tôi từ chối người khoác lác, vì một ngày nào đó niềm kiêu hãnh của anh ta sẽ khiến anh ta giết hại ai đó. Cho nên chúng tôi luôn nói thịt của anh ta không có giá trị. Bằng cách này, chúng tôi làm dịu con tim của anh ta và giúp anh trở nên hòa nhã hơn.”[5]
Điều kiêng kị của những cư dân săn bắt hái lượm là tích trữ và dành dụm. Trong phần lớn lịch sử của nhân loại, chúng ta không thu thập, tích trữ mọi thứ, trừ tình bạn. Điều này chưa bao giờ khiến các nhà thám hiểm châu Âu hết kinh ngạc, những người thể hiện thái độ hoài nghi trước sự hào phóng của những con người mà họ gặp. Columbus viết trong nhật kí của mình: “Khi quý vị hỏi xin gì đó mà họ có, họ không bao giờ từ chối. Ngược lại, họ còn đề nghị được chia sẻ chiến lợi phẩm cho bất kì ai.”[6]
Dĩ nhiên, luôn có những người từ chối tuân thủ việc chia sẻ của cải hoặc chiến lợi phẩm một cách công bằng. Những kẻ trở nên quá ngạo mạn hoặc tham lam có nguy cơ bị trục xuất. Ngoài ra nếu cách đó không hiệu quả, thì còn một biện pháp cuối cùng.
Hãy xem một sự việc đã diễn ra trong bộ lạc !Kung. Nhân vật chính là !Twi, một thành viên ngày càng không thể làm chủ được mình và đã sát hại hai người. Mọi thành viên trong bộ lạc đều thấy phát ngán: “Mọi người trong bộ lạc đều bắn gã bằng tên độc cho tới khi gã trông như một con nhím. Sau khi gã chết, tất cả phụ nữ cũng như đàn ông tiến lại xác gã và tiếp tục lấy giáo đâm vào người đó, điều này tượng trưng cho việc chia sẻ trách nhiệm về cái chết của gã.”[7]
Các nhà nhân chủng học cho rằng những can thiệp như thế này thỉnh thoảng vẫn diễn ra ở thời tiền sử, khi các bộ lạc giải quyết những thành viên bất tuân và hình thành phức cảm tự tôn. Đây là một trong những cách con người chúng ta thuần hóa chính mình: những cá nhân hung hăng ít có cơ hội để sinh con đẻ cái, trong khi những người hành xử hòa nhã hơn có nhiều hậu duệ hơn.[8]
Trong phần lớn lịch sử nhân loại, đàn ông và đàn bà ít nhiều bình đẳng. Trái ngược với khuôn mẫu người hang động mà chúng ta tưởng tượng giống như một con khỉ đột tự đấm ngực thình thịch, kéo lê theo cây chùy và dễ nổi giận, nam giới thời nguyên thủy có lẽ không phải những người gia trưởng. Họ giống những người ủng hộ nữ quyền nhiều hơn.
Các nhà khoa học cho rằng sự bình đẳng giữa hai giới ở giống loài Homo sapiens chính là lợi thế then chốt so với các giống người khác như người Neanderthal. Qua nhiều nghiên cứu thực địa, các nhà khoa học thấy rằng trong những xã hội phụ hệ, đàn ông chủ yếu giao du với các anh em ruột và họ hàng cũng là nam giới. Ngược lại, trong những xã hội nơi quyền lực được chia sẻ với phụ nữ, con người thường có mạng lưới xã hội đa dạng hơn.[9] Và, như chúng ta thấy trong Chương 3, nhiều bạn hơn sẽ giúp chúng ta trở nên khôn ngoan hơn.
Bình đẳng giới cũng dễ thấy trong việc làm cha mẹ. Đàn ông trong xã hội nguyên thủy dành nhiều thời gian với con cái của họ hơn là những ông bố hiện nay.[10] Chăm sóc con cái là trách nhiệm mà cả bộ lạc đều quan tâm và chia sẻ: trẻ sơ sinh do tất cả mọi người trông coi và thỉnh thoảng còn được những phụ nữ không phải mẹ cho bú. Một nhà nhân chủng học ghi lại: “Những trải nghiệm ban đầu như vậy, giúp chúng ta lý giải tại sao trẻ em trong những xã hội săn bắt hái lượm có xu hướng lĩnh hội các mô hình làm việc về thế giới của mình như là một ‘nơi cho đi’.”[11] Trong khi các bậc phụ huynh hiện đại cảnh báo con cái không được nói chuyện với người lạ thì ở thời tiền sử những đứa trẻ được nuôi nấng dựa trên sự tin tưởng những người lạ.
Ngoài ra, còn có những dấu hiệu mạnh mẽ cho thấy rằng cư dân săn bắt hái lượm khá thoải mái về đời sống tình cảm của họ. “Chế độ một vợ một chồng nối tiếp” là cách một số nhà sinh vật học mô tả chúng ta. Hãy xem bộ lạc Hadza ở Tanzania, nơi mà trung bình một người một đời thường có hai hoặc ba bạn tình, và phụ nữ được lựa chọn bạn đời.[12] Hoặc bộ lạc Aché cư trú ở vùng núi tại Paraguay, nơi trung bình một phụ nữ có tới 12 người chồng trong một đời người.[13] Việc có một số lượng lớn những người cha tiềm năng này có thể hữu ích vì tất cả họ đều tham gia vào việc nuôi dạy con cái của người phụ nữ đó.[14]
Khi một nhà truyền giáo thế kỉ 17 cảnh báo một thanh niên trong bộ lạc Innu (ở khu vực nay là Canada) về những hiểm họa của việc không chung thủy, thanh niên đó trả lời, “Vậy là cha không có tri giác. Người Pháp các vị chỉ yêu con cái của chính mình; nhưng chúng tôi yêu thương tất cả trẻ con trong bộ lạc chúng tôi.”[15]
02
Tôi càng biết về cách tổ tiên chúng ta sống thì tôi càng có nhiều câu hỏi.
Nếu đúng là chúng ta từng sinh sống trong một thế giới tự do và bình đẳng thì tại sao chúng ta lại từ bỏ cuộc sống đó? Và nếu những cư dân săn bắt hái lượm không gặp khó khăn gì trong việc loại bỏ những nhà lãnh đạo độc đoán thì tại sao giờ đây chúng ta dường như không thể làm được như họ?
Lời giải thích đầy tính thuyết phục là xã hội hiện đại không thể tồn tại được nếu thiếu các nhà lãnh đạo. Các nhà nước và công ty đa quốc gia cần những vị vua, tổng thống và CEO bởi vì, như giáo sư địa lý Jared Diamond từng nói: “Những nhóm dân số lớn không thể vận hành nếu thiếu những nhà lãnh đạo đưa ra các quyết định.”[16] Rõ ràng, nhiều nhà quản lý và vua chúa tỏ ra dễ chịu với thuyết này. Và nó nghe có vẻ hợp lý, vì làm sao bạn có thể xây được một đền thờ, một kim tự tháp, hay một thành phố nếu thiếu vị bậc thầy điều khiển rối kéo những sợi dây?
Tuy nhiên, lịch sử cũng đưa ra rất nhiều ví dụ về các xã hội xây dựng những đền thờ, thậm chí toàn bộ thành phố, mà không cần đến hệ thống thứ bậc cứng nhắc. Năm 1995, các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật một quần thể đền thờ lớn ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ, với những cột trụ chạm khắc rất đẹp nặng hơn 20 tấn mỗi cột. Hãy liên tưởng đến Stonehenge, nhưng đồ sộ hơn nhiều. Khi xác định niên đại của các cột trụ, các nhà nghiên cứu ngạc nhiên biết rằng quần thể này đã tồn tại hơn 11.000 năm. Thời điểm đó có thể quá sớm để có bất kì xã hội nông nghiệp nào đó (với những vị vua hoặc quan chức chỉ huy) xây dựng nên một công trình như vậy. Thực tế, khi tìm kiếm, các nhà khảo cổ không thấy dấu vết gì của nền văn hóa nông nghiệp. Cấu trúc đồ sộ này hẳn là tác phẩm của cư dân du mục săn bắt hái lượm.[17]
Göbekli Tepe (dịch là “Đồi Bụng phệ”) hóa ra là đền thờ cổ xưa nhất trên thế giới và là một ví dụ về những gì các học giả gọi là sự kiện lao động tập thể. Hàng nghìn người góp sức, và những người hành hương đến từ khắp nơi để giúp một tay. Khi hoàn thành công trình, lễ ăn mừng linh đình được tổ chức với một đại tiệc là linh dương gazelle nướng (các nhà khảo cổ tìm thấy hàng nghìn bộ xương gazelle). Những tượng đài như thế này không được xây dựng để thể hiện cái tôi của một thủ lĩnh nào đó. Mục đích của chúng là đem mọi người xích lại gần nhau hơn.[18]
Công bằng mà nói, vẫn có những manh mối cho thấy rằng đôi khi trong thời tiền sử, có một số cá nhân lên nắm quyền. Ví dụ, một ngôi mộ sang trọng được phát hiện năm 1955 ở Sungir, cách hơn 200 km về phía bắc Moscow. Trong đó có những vòng tay được gọt đẽo từ ngà voi ma mút mài nhẵn, một chiếc khăn đội đầu đính răng cáo và hàng nghìn hạt cườm bằng ngà, tất cả đều có niên đại 30.000 năm tuổi. Những ngôi mộ như thế này hẳn là nơi an nghỉ cuối cùng của các hoàng tử và công chúa từ rất lâu trước khi loài người xây dựng các kim tự tháp hoặc đại giáo đường.[19]
Dù vậy, có rất ít những cuộc khai quật như thế từng diễn ra, các nhà khoa học mới chỉ tìm thấy một vài địa điểm mai táng cách nhau hàng trăm dặm. Họ đưa ra giả thuyết rằng, vẫn có những trường hợp hiếm hoi người cai trị lên nắm quyền nhưng họ sẽ nhanh chóng bị lật đổ.[20] Trong hàng chục nghìn năm, loài người đều có cách hữu hiệu để hạ bệ bất kì ai ăn trên ngồi trốc. Giễu nhại. Nhạo báng. Đồn thổi. Và nếu cách đó không hiệu quả thì chỉ cần bắn một mũi tên vào mông là xong.
Nhưng đột nhiên, cách vận hành ấy ngừng hoạt động, chiếc ghế của những kẻ cai trị trở nên vững chắc và họ tìm cách níu giữ quyền lực. Câu hỏi đặt ra là: Tại sao vậy?
03
Để hiểu xem mọi việc sai ở đâu, chúng ta phải lùi lại 15.000 năm, tới giai đoạn kết thúc kỉ Băng Hà cuối cùng. Mãi cho tới khi đó, hành tinh này vẫn rất ít người và con người thường tụ họp với nhau để tránh rét. Thay vì một cuộc đấu tranh để sinh tồn thì lại là một cái ôm✻ để sinh tồn, và cũng để giữ cho nhau được ấm áp.[21]
Rồi khí hậu thay đổi, biến khu vực giữa sông Nile ở phía tây và sông Tigris ở phía đông trở thành vùng đất tràn trề sữa và mật. Tại đây, sự sinh tồn không còn lệ thuộc vào việc tụ tập với nhau để chống lại với các yếu tố khắc nghiệt của thiên nhiên nữa. Với nguồn cung thực phẩm dồi dào, định cư là giải pháp hợp lý. Những ngôi nhà và đền thờ được xây dựng, thị trấn và làng mạc dần hình thành và dân số tăng lên.[22]
Quan trọng hơn, của cải tư hữu cũng bắt đầu gia tăng.
Rousseau nói gì về điều này? “Người đầu tiên, sau khi rào giậu một mảnh đất, liền nạp vào trong đầu mình suy nghĩ rằng: ‘Đây là đất của ta’.” Đó là điểm mấu chốt gây ra những sai lầm tiếp theo.
Không hề dễ dàng thuyết phục mọi người rằng đất đai hay động vật – hoặc thậm chí những người khác – có thể thuộc về một ai đó bởi vì cư dân săn bắt hái lượm luôn chia sẻ với nhau mọi thứ.[23] Và hình thức sở hữu mới mẻ này xuất hiện có nghĩa là sự bất bình đẳng manh nha hình thành và phát triển. Thậm chí, khi ai đó chết đi, của cải của họ được truyền cho thế hệ tiếp theo. Một khi kiểu kế thừa này phát huy, khoảng cách giữa giàu và nghèo gia tăng.
Điều thú vị là chính tại giao lộ này, sau khi kết thúc kỉ Băng Hà cuối cùng, thì cũng là lúc những cuộc chiến tranh đầu tiên nổ ra.
Một nghiên cứu khảo cổ xác định, ngay khi chúng ta bắt đầu định cư, chúng ta cũng xây dựng những pháo đài quân sự đầu tiên. Đây cũng là khi những bức tranh hang động đầu tiên xuất hiện, mô tả các cung thủ lao vào nhau, và người ta đã tìm thấy các quân đoàn xương trong khoảng thời gian này. Trên xương có những dấu vết rõ rệt của tổn thương do bạo lực.[24]
Làm thế nào chuyện này lại xảy ra? Các học giả cho rằng có ít nhất hai nguyên nhân. Một, giờ chúng ta có tài sản để tranh giành, bắt đầu từ đất đai. Và hai, cuộc sống định cư khiến chúng ta không được phép tin tưởng vào người lạ. Cư dân du mục săn bắt hái lượm có tính cách cởi mở: bạn liên tục gặp những người mới và có thể dễ dàng gia nhập nhóm khác.[25] Còn những cư dân làng xóm, ngày càng tập trung vào cộng đồng và của cải của riêng mình. Giống loài Homo puppy chuyển từ “tứ hải giai huynh đệ” sang bài ngoại.
Cũng có những dịp chúng ta tụ tập với những người xa lạ, nhưng mỉa mai thay, là để đánh nhau. Các thị tộc bắt đầu hình thành liên minh phòng ngự để chống lại các thị tộc khác. Các thủ lĩnh xuất hiện, chắc chắn là những nhân vật có uy tín chứng tỏ được dũng khí của họ trên chiến trường. Mỗi cuộc xung đột mới lại càng củng cố vị thế của họ. Theo thời gian, những vị tướng này gắn bó với quyền lực đến mức không thể từ bỏ nó, thậm chí cả trong thời bình.
Vậy nên các tướng lĩnh thường bị phế truất thay vì tự nguyện từ bỏ quyền lực. Một sử gia ghi lại: “Hẳn đã phải có hàng nghìn kẻ nổi dậy, nhưng thất bại trong việc nắm giữ vương quyền vĩnh viễn.”[26] Nhưng cũng có những trường hợp khi việc can thiệp diễn ra quá muộn, sau khi vị tướng đã tập hợp được đủ người ủng hộ và bảo vệ mình trước quần chúng. Các xã hội thống trị bởi dòng giống cai trị kiểu này ngày càng trở nên gắn bó với chiến tranh.
Nếu chúng ta muốn hiểu về “chiến tranh”, chúng ta phải nhìn vào những người đưa ra quyết định cho cuộc chiến. Các tướng lĩnh và các vị vua, các tổng thống và cố vấn: đây chính là những Leviathan chuyên phát động chiến tranh, vi biết rằng chiến tranh sẽ thúc đẩy quyền lực và đặc quyền của họ.[27] Hãy xem Kinh Cựu ước, trong đó
Ngôn sứ Samuel cảnh báo người Israel về những hiểm họa của việc chấp nhận một vị vua. Đó là một trong những thông điệp mang tính tiên tri – và hắc ám – nhất trong Kinh thánh:
Đây là quyền hành của nhà vua sẽ cai trị anh em. Các con trai anh em, ông sẽ bắt mà cắt đặt vào việc trông coi những cỗ xe và ngựa của ông, và chúng sẽ chạy đằng trước xe của ông. Ông ta sẽ phong những người chỉ huy hàng ngàn và hàng trăm người, sẽ bắt một số người cày đất cho ông, gặt lúa cho ông, chế tạo vũ khí cho ông và dụng cụ cho xe của ông. Các con gái anh em, ông sẽ bắt vào làm thợ chế nước hoa, nấu ăn và làm bánh. Đồng ruộng, vườn nho, vườn cây ô-liu tốt nhất của anh em, ông sẽ lấy mà cho bề tôi của ông. Lúa thóc và vườn nho của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân mà cho các thái giám và bề tôi của ông. Các tôi tớ nam nữ, các người trai tráng khá nhất của anh em, các con lừa của anh em, ông sẽ bắt mà dùng vào việc của ông. Chiên dê của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân. Còn chính anh em sẽ làm nô lệ cho ông.
Sự xuất thiện của các khu định cư và sở hữu tư nhân mở đầu một thời kì mới trong lịch sử nhân loại, số lượng 1% bắt đầu áp bức 99% còn lại, và những kẻ khéo ăn khéo nói thăng tiến từ các chỉ huy lên tướng lĩnh và từ các tù trưởng thành vua chúa. Những ngày tháng tự do, bình đẳng và bác ái đã hết.
04
Khi đọc về những phát hiện khảo cổ gần đây, suy nghĩ của tôi trở lại với Jean-Jacques Rousseau. Những cây viết tự nhận là theo “hiện thực chủ nghĩa” thường phớt lờ và coi ông như một người lãng mạn ngây thơ. Nhưng tôi dần nhận thấy có vẻ như Rousseau lại chính là một nhà hiện thực chủ nghĩa thực sự.
Triết gia người Pháp này bác bỏ quan niệm về sự tiến bộ của nền văn minh. Ông bác bỏ ý tưởng – vẫn được dạy trong trường học ngày nay – đó là chúng ta khởi đầu như những cư dân hang động, chuyên nện vào đầu nhau. Rằng nông nghiệp và tài sản tư hữu là thứ mang lại cho chúng ta hòa bình, an toàn và thịnh vượng. Và những món quà này được tổ tiên chúng ta háo hức nhận lấy, bởi họ đã chán việc phải lang thang với cái bụng đói và thường xuyên chém giết lẫn nhau.
Điều Rousseau tin chẳng có gì hơn ngoài sự thật. Ông cho rằng chỉ khi chúng ta định cư ở một nơi thì mọi chuyện bắt đầu tan rã, và đó là những gì mà ngành khảo cổ hiện nay đang chứng minh cho chúng ta thấy. Rousseau cho rằng việc phát minh ra nông nghiệp là một thất bại lớn, và chúng ta ngày càng có nhiều bằng chứng thuyết phục về điều này.
Ngoài ra còn một điều nữa đó là, các nhà nhân chủng học phát hiện rằng những cư dân săn bắt hái lượm đã có một cuộc sống khá an nhàn, họ chỉ làm việc từ 20 đến 30 giờ một tuần. Tại sao lại ít như vậy? Tự nhiên chu cấp cho họ mọi thứ họ cần, nên bấy giờ có rất nhiều thời gian để thư giãn, rong chơi và kết nối.
Ngược lại, nông dân phải vất vả cấy cày trên ruộng đồng, chẳng còn mấy thời gian rảnh rỗi. Đắng cay lắm mới có quả ngọt. Thậm chí, một số nhà thần học còn ngờ rằng câu chuyện về sự Sa Ngã✻ ám chỉ sự chuyển đổi sang nông nghiệp có tổ chức, được mô tả rõ ràng trong sách Sáng Thế kí Chương 3: “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn.”[28]
Cuộc sống định cư gây ra rất nhiều thiệt thời cho loài người, đặc biệt là phụ nữ. Sự xuất hiện của tài sản tư hữu và nông nghiệp chấm dứt thời đại mẫu quyền. Những người con trai bám trụ trên mảnh đất của cha để chăm nom đất đai và gia súc, nghĩa là giờ đây cô dâu phải được đưa tới trang trại gia đình chồng. Qua nhiều thế kỉ, các cô con gái đến tuổi kết hôn bị xem thường và không khác gì một món hàng hóa, bị trao đổi như bò hay cừu.[29]
Trong gia đình nhà chồng, những cô dâu bị nhìn với thái độ đầy khinh thường, và chỉ sau khi sinh một đứa con trai thì người phụ nữ này mới được chấp nhận. Một đứa con trai mới có giá trị. Ngoài ra, không phải ngẫu nhiên mà trinh tiết của phụ nữ biến thành một nỗi ám ảnh. Nếu ở thời tiền sử, phụ nữ được tự do tùy ý đến hoặc đi thì giờ đây họ bị giấu diếm, bắt ép, trói buộc. Chế độ phụ quyền ra đời.
Và mọi thứ ngày càng trở nên tệ hơn. Rousseau lại đúng khi ông nói rằng những nông dân định cư không còn mạnh khỏe như những cư dân du mục săn bắt hái lượm. Là dân di cư, chúng ta phải luyện tập rất nhiều và hưởng một chế độ dinh dưỡng giàu vitamin và chất xơ. Nhưng khi là nông dân, chúng ta bắt đầu tiêu thụ thực đơn đơn điệu với các loại hạt trong bữa sáng, bữa trưa và bữa tối.[30]
Chúng ta cũng bắt đầu sống trong những không gian khép kín hơn, gần rác thải của chính mình. Chúng ta thuần hóa động vật như bò và dê rồi bắt đầu uống sữa của chúng. Việc này biến các thị trấn thành những chiếc đĩa Petri✻ khổng lồ cho các loại vi khuẩn và virus biến dị.[31] Rousseau nhận xét: “Khi nói đến lịch sử xã hội dân sự, chúng ta cũng phải nói đến lịch sử bệnh tật của loài người.”[32]
Trước đây các loại bệnh lây nhiễm như sởi, đậu mùa, lao, giang mai, sốt rét, tả và dịch hạch đều chưa từng xuất hiện cho đến khi chúng ta đánh đổi lối sống du mục lấy nền nông nghiệp. Vậy bệnh tật từ đâu mà ra? Từ các vật nuôi được thuần dưỡng mới của chúng ta – hay cụ thể hơn, từ các loại vi khuẩn của chúng. Chúng ta bị lây bệnh sởi qua bò, trong khi bị cúm từ một cuộc tình tay ba (ménage à trois) giữa con người, lợn và vịt, với những biến chủng mới vẫn liên tục xuất hiện.
Tương tự với các loại bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Các bệnh này, gần như không hề được biết đến trong thời du mục, đã bắt đầu lan tràn trong cộng đồng những người chăn cừu. Tại sao? Lý do khá xấu hổ, đó là khi con người bắt đầu nuôi gia súc, họ cũng sinh ra thú tính. Đúng hơn là: thú dâm. Khi thế giới ngày càng trở nên căng thẳng, gã nông dân kì quái lén lút làm điều không tưởng, bức hiếp gia súc của mình.[33]
Và đó cũng là tia lửa thứ hai khiến đàn ông bị ám ảnh về trinh tiết của người phụ nữ. Ngoài vấn đề hậu duệ hợp pháp, đó còn là nỗi sợ các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Các vị vua và hoàng đế, những người có hậu cung rộng lớn tùy ý sử dụng, ra sức bảo đảm bạn tình của họ phải “trinh bạch”. Vậy là nảy sinh suy nghĩ – vẫn được cả triệu người ủng hộ ngày nay – tình dục trước hôn nhân là một tội nghiêm trọng.
Nạn đói, lũ lụt, dịch bệnh – ngay khi con người định cư tại một nơi thì chúng ta cũng thấy mình phải vật lộn với chu kì bất tận của tai ương. Một vụ mùa thất bát hay một loại virus bùng phát cũng đủ để giết sạch toàn bộ dân số. Với giống loài Homo puppy, đây hẳn là một khúc cua gây ra nỗi hoang mang lớn. Tại sao điều này lại xảy ra? Ai đứng đằng sau nó?
Các học giả đều nhất trí rằng con người luôn tin vào các thần linh và cả ma quỷ.[34] Nhưng các vị thần của tổ tiên du mục chúng ta thờ cúng đôi khi còn không quan tâm đến cuộc đời của những kẻ phàm trần thì nói gì đến việc trừng phạt những tội lỗi của họ. Các tôn giáo du mục tương đồng với những điều mà một nhà nhân chủng học người Mỹ đã dành nhiều năm sống với bộ lạc du mục Hadza ở Tanzania mô tả:
Tôi nghĩ có thể cho rằng người Hadza thực sự có tôn giáo, chắc chắn là một vũ trụ luận, nhưng nó lại ít có sự tương đồng với những gì hầu hết chúng ta trong các xã hội phức tạp (với Kitô giáo, Hồi giáo, Ân Độ giáo,…) cho là tôn giáo. Không có các nhà thờ, cha giảng đạo, thủ lĩnh hay vệ binh tôn giáo, không có thánh tượng hay hình ảnh thần thánh, không có các cuộc hội họp được tổ chức đều đặn, không có đạo đức tôn giáo, không có niềm tin vào một cõi âm – tôn giáo của họ không hề giống với các tôn giáo ngày nay.[35]
Sự xuất hiện của các khu định cư lớn đầu tiên đã kích hoạt một sự chuyển đổi mang tính bản lề trong đời sống tôn giáo. Khi tìm cách giải thích những tai họa đột nhiên ập xuống, chúng ta bắt đầu tin vào luật nhân quả và những thế lực với quyền năng vô hạn, tin vào các vị thần biết nổi giận vì điều xấu chúng ta làm.
Cả một tầng lớp tăng lữ tham gia vào việc nghĩ ra lý do tại sao các vị thần lại nổi giận như vậy. Phải chăng chúng ta đã ăn thứ gì đó cấm kị? Hay nói điều gì đó sai? Có một suy nghĩ bị cấm?[36] Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta hình thành quan niệm về tội lỗi. Và chúng ta bắt đầu tìm tới các thầy tu để “kê đơn” cách chúng ta sám hối. Đôi khi cầu nguyện hoặc hoàn thành một loạt nghi thức nghiêm ngặt là đủ, nhưng thường chúng ta phải hi sinh những của cải thân thương – đồ ăn, động vật hoặc thậm chí con người.
Chúng ta hãy xem xét việc hiến tế của người Aztec, những người đã thiết lập cả một ngành công nghiệp hiến tế con người ở thủ đô Tenochtitlan của họ. Khi những kẻ chinh phục người Tây Ban Nha tiến quân vào thành phố năm 1519 và bước vào ngôi đền lớn nhất ở đây, họ đã sững sờ thấy những cái giá khổng lồ và những ngọn tháp chất hàng nghìn chiếc sọ người. Giờ đây các học giả tin rằng, mục đích của những cuộc hiến tế người này không chỉ là làm hài lòng các vị thần. Một nhà khảo cổ nhận xét: “Việc giết hại những kẻ bị bắt như một nghĩ thức, là một tuyên bố chính trị mạnh mẽ […] đó là cách để người đứng đầu kiểm soát dân số.”[37]
Trong khi suy ngẫm về sự khốn khổ này – nạn đói, dịch bệnh, sự áp bức – rất khó để không đặt ra câu hỏi: Tại sao lại vậy? Tại sao chúng ta cho rằng việc định cư ở một chỗ là ý tưởng hay? Tại sao chúng ta lại đánh đổi cuộc sống du mục nhàn nhã và sức khỏe để lấy một cuộc sống nhọc nhằn và phiền phức của nông dân?
Các học giả có thể xâu chuỗi thành một bức tranh khá hoàn chỉnh về những gì đã xảy ra. Những nơi định cư đầu tiên có lẽ quá hấp dẫn: một thiên đường cõi tục nơi cây cối trĩu quả và những đàn linh dương, tuần lộc đang thảnh thơi gặm cỏ, có điên mới không ở lại nơi đây.
Với nông nghiệp, cũng hệt như vậy. Không hề có khoảnh khắc vỡ òa vui sướng khi ai đó hét lên: “Eureka! Chúng ta bắt đầu trồng cây nào!” Mặc dù trong hàng vạn năm, tổ tiên của chúng ta đã nhận thức được rằng họ có thể trồng mọi thứ và thu hoạch, nhưng họ không đi theo con đường đó. Một thành viên bộ lạc !Kung từng thốt lên với một nhà nhân chủng học rằng: “Tại sao chúng tôi cần trồng cây trong khi có rất nhiều hạt mắc ca trên thế giới?”[38]
Lời giải thích hợp lý nhất là chúng ta đã bị rơi vào một cái bẫy. Đó là vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ nằm giữa sông Tigris và Euphrates, nơi cây trồng mọc lên mà không tốn nhiều công sức. Ở đó chúng ta có thể gieo hạt xuống lớp đất phủ đầy phù sa sau mỗi đợt nước rút hằng năm. Mẹ Thiên nhiên đã làm phần lớn công việc, thậm chí ngay cả giống loài Homo puppy vốn ngại việc cũng sẵn lòng thử làm nông nghiệp.[39]
Nhưng điều tổ tiên chúng ta không thể tiên liệu được là con người sinh sôi phát triển quá nhanh. Khi các khu định cư của họ đông đúc hơn, số lượng động vật hoang dã giảm đi. Để bù lại, diện tích đất canh tác phải được mở rộng sang các vùng không được ban cho lớp đất màu mỡ. Càng ngày nông nghiệp càng không còn dễ dàng như trước. Chúng ta phải cày bừa và gieo hạt từ tờ mò sáng đến tối mịt. Cơ thể chúng ta không được hình thành để làm loại công việc này nên bắt đầu xuất hiện nhiều kiểu đau đớn. Cơ thể chúng ta tiến hóa đề thu lượm các loại quả mọng và chống chọi qua cái lạnh, còn hiện giờ cuộc sống của chúng ta chỉ toàn lao động nặng nhọc.
Vậy tại sao chúng ta lại không quay lại lối sống tự nhiên của mình? Vì đã quá muộn. Không chỉ có quá nhiều miệng ăn, mà đến lúc này chúng ta cũng đã đánh mất kĩ năng sở trường săn bắt hái lượm. Bên cạnh đó, chúng ta không thể chỉ đơn giản là gói ghém hành trang và lên đường tới những đồng cỏ xanh tươi hơn, bởi vì chúng ta bị bao bọc trong những khu định cư liền nhau, và chúng không chào đón những kẻ xâm phạm. Chúng ta bị mắc kẹt.
Không bao lâu, nông dân đã áp đảo dân du mục săn bắt hái lượm. Các khu định cư nông nghiệp có thể thu hoạch được nhiều lương thực hơn, điều đó có nghĩa chúng cũng có thể nuôi được đội quân đông đảo hơn. Các bộ lạc du mục duy trì lối sống truyền thống của mình phải chống trả những kẻ thực dân xâm lược và những căn bệnh lây nhiễm của họ. Cuối cùng, các bộ lạc không chịu khuất phục một bạo chúa thì đều bị đàn áp bằng vũ lực.[40]
Sự xuất hiện của những va chạm đầu tiên này báo hiệu sự khởi đầu của cuộc chạy đua sẽ định hình lại lịch sử thế giới. Các ngôi làng bị các thị trấn chinh phục, các thị trấn bị sáp nhập bởi các thành phố, các thành phố lại bị các tỉnh nuốt gọn khi các xã hội điên cuồng mở rộng quy mô để đáp ứng những nhu cầu không thể thiếu trong chiến tranh. Việc này bị đẩy lên cực điểm và dẫn đến tai họa cuối cùng mà Rousseau than vãn.
Sự ra đời của nhà nước.
05
Chúng ta tạm thời trở lại với bức tranh mà Thomas Hobbes đã vẽ về những con người đầu tiên đi lại trên trái đất. Ông tin rằng một cuộc sống không bị ràng buộc đẩy tổ tiên của chúng ta vào một “cuộc chiến tranh tất cả chống lại tất cả”. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta nên đón nhận những Leviathan (thủ lĩnh và vua chúa) đầu tiên và sự an toàn mà họ hứa hẹn sẽ mang đến cho chúng ta. Hobbes nói vậy.
Giờ đây chúng ta biết rằng, tổ tiên du mục của chúng ta thực tế đã từng trốn chạy những tên bạo chúa này. Những nhà nước đầu tiên – hãy nghĩ đến Uruk ở Lưỡng Hà hay Ai Cập của các pharaoh – là những nhà nước nô lệ.[41] Người ta không chọn cách sống chen chúc cùng nhau, nhưng luôn bị dồn ép bởi những thể chế lúc nào cũng thèm khát những thần dân mới, bởi vì nô lệ của họ liên tục chết vì đậu mùa và dịch hạch. (Không phải ngẫu nhiên mà Kinh Cựu ước lại vẽ những thành phố bằng thứ ánh sáng tiêu cực như vậy. Từ Tháp Babel bất thành tới vụ phá hủy Sodom và Gomorrah, sự trừng phạt của Chúa đối với các thành phố ngập tràn tội lỗi rất thẳng thắn và quyết liệt).
Thật mỉa mai! Những thứ mà ngày nay chúng ta tán dương là “những dấu mốc đánh dấu sự phát triển của nền văn minh” như việc phát minh ra tiền, sự ra đời và phát triển của chữ viết, hay sự ra đời của các thiết chế pháp lý – khởi đầu đều là các công cụ áp bức. Hãy xem những đồng xu đầu tiên: chúng ta không hề đúc tiền vì chúng ta nghĩ nó sẽ làm cho cuộc sống dễ dàng hơn, mà bởi vì các nhà cai trị muốn thu thuế một cách triệt để và hiệu quả nhất.[42] Hoặc hãy nghĩ về những văn bản viết tay sớm nhất: đây không phải là những cuốn sách về thi ca lãng mạn mà là những danh sách dài dằng dặc các khoản nợ.[43]
Và những thiết chế pháp lý là gì? Bộ luật Hammurabi huyền thoại, bộ luật đầu tiên, chứa đầy những hình phạt đối với các hành động giúp nô lệ trốn thoát.[44] Ở Athens cổ đại, cái nôi của nền dân chủ phương Tây, hai phần ba dân số là nô lệ. Những nhà tư tưởng vĩ đại như Plato và Aristotle tin rằng không có chế độ nô lệ thì không thể có nền văn minh.
Có lẽ, minh họa thuyết phục nhất về bản chất đích thực của các nhà nước là Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, một kì quan thế giới nhằm ngăn chặn “đám man rợ” nguy hiểm tiến vào – nhưng cũng để nhốt thần dân bên trong. Nó đã rất hiệu quả làm cho đế chế Trung Hoa trở thành nhà tù ngoài trời lớn nhất mà thế giới từng biết.[45]
Có một sự kiêng kị đau đớn trong quá khứ của nước Mỹ mà hầu hết các sách lịch sử đều im lặng. Một trong số ít người sẵn sàng thừa nhận điều đó là Người cha Lập quốc Benjamin Franklin. Cũng trong khoảng thời gian Rousseau đang viết cuốn sách của mình, Franklin đã thừa nhận rằng: “Không người châu Âu nào từng nếm trải cuộc sống man rợ, sau đó có thể chịu được việc sống trong xã hội chúng ta.”[46] Ông mô tả những người đàn ông và phụ nữ da trắng “văn minh” bị người da đỏ bắt và sau khi được thả sẽ “chớp lấy cơ hội đầu tiên để trốn vào Rừng”.
Hàng trăm người, vốn đi xâm chiếm thuộc địa lại trốn chạy vào những nơi hoang dã để sống, trong khi điều ngược lại hiếm khi xảy ra.[47] Và ai có thể trách họ? Khi sống như những thổ dân, họ được hưởng nhiều quyền tự do hơn khi là những nông dân và người đóng thuế. Thậm chí với phụ nữ, sự hấp dẫn này còn lớn hơn. “Chúng tôi có thể ung dung làm bất cứ điều gì tùy ý muốn,” một phụ nữ đi khai phá thuộc địa đã cố gắng trốn chạy khỏi những người đồng hương được cử đến để “giải cứu” cô ấy.[48] Một phụ nữ khác lại nói với nhà ngoại giao Pháp rằng: “Ở đó, tôi không có ông chủ. Tôi sẽ kết hôn nếu tôi muốn và độc thân khi tôi thích. Liệu trong các thành phố của ngài, có người phụ nữ nào được tự do như tôi không?”[49]
Trong những thế kỉ gần đây, toàn bộ các tủ sách đều viết về sự trỗi dậy và sụp đổ của các nền văn minh. Hãy nghĩ đến những kim tự tháp bị cây cối phủ kín của người Maya hay các đền thờ bỏ hoang của người Hy Lạp.[50] Để củng cố thêm cho những cuốn sách này là giả thiết cho rằng, khi nền văn minh suy sụp, mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn, đẩy thế giới vào những “đêm trường Trung cổ”.
Các học giả hiện đại gợi ý rằng sẽ chính xác hơn nếu mô tả những đêm trương Trung cổ ấy như một sự cứu giúp tạm thời, khi những người nô lệ giành lại quyền tự do của họ, bệnh lây nhiễm ít hơn, chế độ dinh dưỡng được cải thiện và văn hóa phát triển. Trong cuốn sách tuyệt vời của mình Against the Grain (tạm dịch: Phản đối ngũ cốc), nhà nhân chủng học James C. Scott chỉ ra rằng những kiệt tác như Iliad và Odyssey khởi nguồn từ Thời kì Homeros hay Kỉ nguyên bóng tối (khoảng 1110 TCN – 700 TCN) ngay sau sự sụp đổ của nền văn minh Mycenae. Phải mãi cho đến tận rất lâu sau này, chúng mới được Homer ghi lại.[51]
Vậy tại sao nhận thức của chúng ta về “những kẻ man di mọi rợ” lại tiêu cực như vậy? Tại sao chúng ta lại tự động đánh đồng việc thiếu “văn minh” đồng nghĩa với thời kì mông muội? Lịch sử, như chúng ta biết, được viết bởi bên thắng cuộc. Những tài liệu cổ xưa nhất đầy rẫy chuyện tuyên truyền cho các nhà nước và các vị vua, được ban hành bởi những kẻ áp bức tìm cách tâng bốc bản thân trong khi xem thường tất cả những người khác. Nguồn gốc của từ “mọi rợ” dùng để chỉ bất kì ai không nói tiếng Hy Lạp cổ đại.
Đó là cách cảm nhận lịch sử bị đảo lộn của chúng ta. Văn minh trở thành từ đồng nghĩa với hòa bình và tiến bộ, và mông muội gắn với chiến tranh và suy tàn. Trên thực tế, trong hầu hết tiến trình tồn tại của xã hội loài người, những điều đó có ý nghĩa hoàn toàn khác.
06
Triết gia Thomas Hobbes đã sai khi nói về người cổ đại. Ông mô tả cuộc sống và thời kì của tổ tiên chúng ta là “tởm lợm, hung bạo và ngắn ngủi”, nhưng cách mô tả chính xác lẽ ra phải là: thân thiện, hòa bình và lành mạnh.
Nghịch lý nằm ở chỗ lời nguyền văn minh đeo đẳng suốt cuộc đời Hobbes. Hãy xem trận dịch hạch đã giết chết người trợ lý của ông vào năm 1628, và cuộc nội chiến năm 1640 buộc ông phải lánh khỏi xứ Anh đến Paris. Hiểu biết của ông về nhân loại bắt nguồn từ chính trải nghiệm của ông với bệnh tật và chiến tranh, những tai họa thực tế không hề được biết đến trong 95% thời gian đầu tiên của lịch sử loài người. Bằng cách nào đó Hobbes đi vào lịch sử như là “cha đẻ chủ nghĩa hiện thực”, nhưng quan điểm của ông về bản chất con người có thể là bất kì điều gì, ngoại trừ sự thật thực tế.
Nhưng phải chăng, văn minh là điều hoàn toàn xấu? Chẳng lẽ nó không hề mang lại điều gì tốt đẹp sao? Ngoài chiến tranh và lòng tham, chẳng phải thế giới hiện đại cũng cho chúng ta rất nhiều điều đáng để cảm ơn sao?
Dĩ nhiên là có. Nhưng chúng ta dễ quên rằng tiến bộ là một hiện tượng rất gần đây. Mãi cho tới Cách mạng Pháp (1789), gần như tất cả các nhà nước trên thế giới đều được nuôi dưỡng bằng lao động cưỡng bức. Cho tới năm 1800, ít nhất ba phần tư dân số toàn cầu sống trong cảnh làm nô lệ cho một vị chúa giàu có.[52] Hơn 90% dân số làm nông dân, và hơn 80% số người phải sống trong cảnh đói nghèo cùng cực.[53] Rousseau cho rằng: “Con người sinh ra đã có tự do nhưng ở đâu chúng ta cũng bị xiềng xích.”[54]
Trong suốt thời gian dài, văn minh bị coi là một tai họa. Sự xuất hiện của các thành phố và nhà nước, nông nghiệp và chữ viết, đã không mang lại sự thịnh vượng cho hầu hết mọi người, mà còn gây ra khổ đau. Chỉ trong hai thế kỉ qua – một cái chớp mắt – mọi thứ trở nên tốt đẹp nhanh chóng, đến mức chúng ta quên mất cuộc sống đã từng cùng cực ra sao. Nếu bạn chia lịch sử nhân loại thành 24 tiếng, thì 23 tiếng và 45 phút đầu tiên sẽ hoàn toàn là những thống khổ. Chỉ có 15 phút cuối cùng xã hội dân sự mới bắt đầu giống một ý tưởng hay.
Trong 15 phút cuối, chúng ta đã loại bỏ được hầu hết các bệnh truyền nhiễm. Giờ đây mỗi năm các loại vắc-xin cứu sống được số người còn nhiều hơn cả những người đã chết vì chiến tranh trong thế kỉ 20.[55] Điều thứ hai là chúng ta giàu có hơn trước rất nhiều. Số người sống trong cảnh đói nghèo cùng cực đã giảm xuống dưới 10%.[56] Và, thứ ba, chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ.
Năm 1842, tổng lãnh sự Anh viết thư cho quốc vương Morocco để hỏi xem, liệu ông ấy có thể làm gì để ngăn chặn nạn buôn bán nô lệ. Quốc vương đã rất ngạc nhiên: “Buôn bán nô lệ là một vấn đề được coi là hết sức bình thường, đến độ tất cả các giáo phái và dân tộc đều nhất trí từ thời các con trai của ngài Adam.”[57] ông ấy không biết rằng, 150 năm sau, chế độ nô lệ chính thức bị bãi bỏ trên toàn thế giới.[58]
Hiện tại, điều tốt đẹp là chúng ta đang ở trong thời đại hòa bình nhất từ trước đến nay.[59] Ở thời Trung đại, có tới 12% dân số châu Âu và châu Á chết vì bạo lực. Nhưng trong 300 năm qua – kể cả hai cuộc thế chiến – con số này giảm xuống còn 1,3% toàn thế giới.[60] (Ở Hoa Kỳ, hiện là 0,7% và tại Hà Lan, nơi tôi sống, chỉ chưa đầy 0,1%.)[61]
Không có lý do gì để coi thường xã hội dân sự. Chúng ta có thể chọn cách tổ chức, vận hành các thành phố và nhà nước theo hình thức mới có lợi cho tất cả mọi người. Lời nguyền văn minh có thể được hóa giải. Nhưng liệu chúng ta có tìm cách làm như vậy? Liệu chúng ta có thể sống sót và phát triển về lâu về dài? Chẳng ai biết được tương lai. Không thể phủ nhận sự tiến bộ trong những thập kỉ qua, nhưng đồng thời chúng ta cũng đối mặt với một cuộc khủng hoảng sinh thái ở quy mô hiện sinh. Trái đất đang ấm lên, các giống loài đang chết dần và câu hỏi bức thiết lúc này là: Lối sống văn minh của chúng ta bền vững đến mức nào?
Tôi vẫn nhớ lời nói của một chính trị gia Trung Quốc vào năm 1970, khi được hỏi về tác động của Cách mạng Pháp năm 1789: “Còn quá sớm để nói về điều đó.”[62]
Có lẽ việc trả lời câu hỏi nền văn minh cũng tương tự như câu trả lời trên. Liệu đó có phải là một ý tưởng hay?
Còn quá sớm để trả lời câu hỏi đó!

