Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 3

CÁI CHẾT CỦA CATHERINE SUSAN GENOVESE

01

Tôi sẽ lấy dẫn chứng thêm về một câu chuyện nữa xảy ra vào những năm 60 của thế kỉ trước. Câu chuyện này đã phơi bày một sự thật đau đớn về bản chất con người. Nội dung câu chuyện này không đề cập đến những việc chúng ta làm, mà là những việc chúng ta không làm được. Đây cũng là câu chuyện lặp lại những gì nhiều người Đức, Hà Lan, Pháp, Áo và những người khác trên khắp châu Âu đã phân trần sau khi hàng triệu người Do Thái bị bắt giữ, trục xuất và giết hại trong Thế chiến thứ Hai.

Wir haben es nicht gewußr. “Chúng tôi không hề biết gì.”

Đó là ngày 13 tháng 3 năm 1964, vào lúc 3 giờ 15 phút sáng. Catherine Susan Genovese lái chiếc Fiat đỏ ngang qua biển báo CẤM ĐỖ ánh lên giữa màn đêm, rồi dừng lại bên ngoài ga tàu điện ngầm Austin.

Kitty, như cách mọi người thường gọi cô, giống như một cơn lốc tràn đầy năng lượng. 28 tuổi, cô phát cuồng với việc khiêu vũ và luôn dành thời gian rảnh rỗi cho bạn bè. Kitty yêu thành phố New York và thành phố này cũng yêu mến cô. Đó là nơi cô được là chính mình – nơi cô tự do.

Thế rồi vào một đêm lạnh lẽo, Kitty đang vội lái xe về nhà người bạn gái của mình bởi hôm nay là ngày kỉ niệm một năm họ quen nhau, và tất cả những gì Kitty muốn làm là cuộn mình bên Mary Ann. Khi đến bãi đậu xe, cô nhanh chóng tắt đèn và khóa cửa xe, đi thẳng tới căn hộ cách đó chưa đầy 30 mét.

Nhưng Kitty không hề biết rằng đây sẽ là những giờ khắc cuối cùng trong cuộc đời cô.

“Ôi Chúa ơi, hắn đâm tôi! Cứu với!”

Lúc đó là 3 giờ 19 phút sáng. Tiếng hét xé toạc màn đêm và đủ to để đánh thức cả khu phố. Ở một vài căn hộ quanh đó, đèn bật sáng, cửa sổ được nâng lên và những tiếng làu bàu trong đêm. Một người nói vọng ra: “Để cô gái đó yên”. Nghe vậy, thủ phạm liền bỏ đi.

Nhưng sau đó, kẻ tấn công đã quay lại và nhận ra không có ai đến giúp Kitty, hắn lại dùng dao đâm vào cô. Cô loạng choạng bước đến chỗ góc tường và cố gắng kêu lên: “Tôi sắp chết! Tôi sắp chết!”

Thế nhưng chẳng có ai ra ngoài cả. Chẳng ai buồn nhấc dù chỉ một ngón tay để giúp cô. Thay vào đó, những hàng xóm láng giềng nhòm qua cửa sổ nhà mình, như thể đang xem một chương trình truyền hình thực tế. Một cặp vợ chồng còn kê vài chiếc ghế ra ngồi và vặn nhỏ đèn để nhìn rõ hơn.

Khi kẻ tấn công quay lại lần thứ ba, hắn thấy cô nằm dưới chân cầu thang ngay bên trong căn nhà. Trên gác, Mary Ann vẫn ngủ và chẳng hay biết gì.

Kẻ tấn công đã đâm liên tiếp vào người cô.

Đến 3 giờ 50 phút sáng, cuối cùng cũng có cuộc gọi đầu tiên đến đồn cảnh sát thông báo về vụ tấn công. Người gọi là người hàng xóm mất rất nhiều thời gian cân nhắc xem mình nên làm gì. Cảnh sát đến hiện trường chỉ trong vòng hai phút, nhưng đã quá muộn. “Tôi không muốn bị dính líu,” người gọi điện thừa nhận với cảnh sát.[1]

Câu nói: “Tôi không muốn bị dính líu” nhanh chóng khiến cả thế giới chấn động.

Ban đầu cái chết của Kitty chỉ là một trong 636 vụ giết người diễn ra ở New York vào năm đó.[2] Một mạng sống bị tước đoạt, một tình yêu bị đánh mất và thành phố vẫn tiếp tục nhịp sống sôi động như không hề có chuyện gì xảy ra. Nhưng hai tuần sau, câu chuyện về cái chết của Kitty được đăng tải trên hầu hết các trang báo. Và lần này vụ giết hại đó đã đi vào lịch sử, không phải vì kẻ giết người hay nạn nhân, mà vì thái độ của những người chứng kiến.

Cơn bão truyền thông bắt đầu dâng vào thứ Sáu tuần Thánh ngày 27 tháng 3 năm 1964. “37 người nhìn thấy vụ giết người nhưng không một ai gọi điện báo cho cảnh sát”, tiêu đề lớn trên trang nhất tờ New York Times ghi. Bài báo mở đầu với những dòng sau đây: “Hơn nửa tiếng, 38 công dân khả kính, tuân thủ pháp luật ở Queens nhìn thấy một kẻ giết người bám theo và đâm một phụ nữ với ba lần tấn công khác nhau ở Kew Gardens.” Một cảnh sát đưa ra nhận định, “Lẽ ra Kitty vẫn có thể sống sót nếu ai đó gọi điện thoại thông báo với sở cảnh sát.”[3]

Từ Anh tới Nga, từ Nhật Bản tới Iran, cái tên Kitty đã làm chấn động thế giới, xuất hiện trên hầu hết các kênh thời sự. Đây là bằng chứng, tờ báo Liên Xô Izvestia đưa tin, về thứ “đạo đức rừng rú” của Chủ nghĩa Tư bản.[4] Xã hội Mỹ trở thành “bệnh hoạn như cái xã hội đã đóng đinh Chúa Giê-su”, mục sư ở Brooklyn giảng trong thánh lễ. Một cây viết gạo cội cũng đưa ra lời kết tội những người đồng hương của mình là “một dân tộc vô đạo đức, nhát gan và tàn nhẫn”.[5]

Các nhà báo, nhiếp ảnh gia và các ê-kíp truyền hình đổ về Kew Gardens, nơi Kitty từng sống. Không ai trong số họ có thể hình dung được khu vực này lại đẹp đẽ, gọn gàng và văn minh như thế. Làm sao những cư dân ở một nơi như thế này lại vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ với tội ác đến vậy?

“Đó là do những ảnh hưởng âm ỉ của truyền hình”, một người kết luận. “Không”, người khác nói, “chính phong trào nam nữ bình quyền đã biến những người đàn ông thành những gã nhát gan”. Những người khác lại cho rằng đó là trường hợp điển hình cho tình trạng nặc danh của cuộc sống đại đô thị. Vậy thì họ khác gì những người Đức, phủ nhận hoàn toàn các cáo buộc sau thời kì tàn sát người Do Thái? Chẳng phải họ cũng trả lời bằng giọng điệu hết sức thờ ơ: Chúng tôi không hề biết gì!

Đây là bức ảnh nổi tiếng nhất của Kitty Genovese. Bức ảnh chân dung này do cảnh sát chụp năm 1961, ngay sau khi cô bị bắt vì một tội nhẹ (cô làm việc ở một quán rượu và ghi cá cược cho khách hàng quen trong các cuộc đua ngựa). Kitty bị phạt 50 đô la. Bức ảnh chân dung được New York Times chụp lại và lan truyền khắp thế giới. Nguồn: Wikimedia.

Một trong những nhận định được nhiều người đồng tình nhất là của Abe Rosenthal, biên tập viên của tờ New York Times đồng thời là một nhà báo lớn lúc bấy giờ, ông nói: “Những gì xảy ra trong khu chung cư và các ngôi nhà ở phố Austin là triệu chứng của thực tiễn kinh hoàng trong đời sống con người.”[6]

Nói một cách đơn giản, chúng ta đơn độc.

02

Lần đầu tiên đọc về vụ Kitty Genovese, tôi mới là một sinh viên. Như hàng triệu người, tôi ngấu nghiến cuốn sách đầu tay The Tipping Point của nhà báo Malcolm Gladwell, ở trang 27 của cuốn sách đó tôi đọc được thông tin về 38 nhân chứng.[7]

Câu chuyện đó khiến tôi bị ám ảnh giống như những câu chuyện về máy sốc điện của Milgram và nhà tù của Zimbardo. “Tôi vẫn nhận được thư về vụ này,” Rosenthal nói nhiều năm sau. “Người ta bị ám ảnh bởi câu chuyện này. Nó giống như một món trang sức – bạn cứ nhìn nó, và nhiều cảm xúc khác ùa về trong bạn như dòng thác lũ.”[8]

Thứ Sáu ngày 13 định mệnh đó trở thành chủ đề của nhiều vở kịch và ca khúc. Nhiều chương trình truyền hình như Seinfeld, Girls và Law and Order đã dành nhiều tập phim để nói về vụ án này. Trong một bài diễn văn vào năm 1994 tại Kew Gardens, Tổng thống Bill Clinton nhắc lại “thông điệp rùng rợn” về vụ sát hại Kitty, thậm chí Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ là Paul Wolfowitz còn dùng nó như một lý lẽ bào chữa gián tiếp cho vụ xâm lược Iraq vào năm 2003. (Ông ấy cáo buộc rằng những người Mỹ phản đối cuộc chiến tranh này cũng thờ ơ như 38 nhân chứng kia.)[9]

Tôi nhận thấy bài học đạo đức của câu chuyện trên đã được thể hiện một cách rất rõ ràng. Tại sao lại không có bất kì ai tới giúp đỡ Kitty Genovese? Ôi chao, bởi vì mọi người nhẫn tâm và dửng dưng. Thông điệp này lập tức nhận được sự đồng tình khi Kitty Genovese trở thành cái tên được nhắc đến ở mọi nơi – đó cũng chính là thời điểm mà Chúa Ruồi trở thành cuốn sách bán chạy, Adolf Eichmann ra hầu tòa, Stanley Milgram gây chấn động khắp thế giới và Philip Zimbardo bắt đầu sự nghiệp.

Nhưng khi bắt đầu đọc các tài liệu để nghiên cứu về bối cảnh xung quanh cái chết của Kitty, lại một lần nữa, tôi đọc được một câu chuyện hoàn toàn khác.

Bibb Latané và John Darley là hai nhà tâm lý học khá trẻ khi đó. Họ nghiên cứu những hành động của người ngoài cuộc trong các tình huống khẩn cấp và nhận thấy một điều khác thường. Không lâu sau vụ sát hại Kitty, họ quyết định thực hiện một thí nghiệm. Đối tượng trong thí nghiệm lần này của họ là sinh viên đại học. Không mảy may nghi ngờ, những người tham gia nghiên cứu được đề nghị ngồi một mình trong phòng kín và nói về đời sống đại học với một vài sinh viên khác qua hệ thống điện thoại nội bộ.

Ngoại trừ việc không hề có sinh viên nào khác: thay vào đó, các nhà nghiên cứu bật băng ghi âm sẵn. Đến thời điểm thích hợp, một giọng nói đã vang lên: “Tôi thật sự cần giúp đỡ, có ai không, xin hãy giúp tôi [âm thanh tắc nghẹn]… tôi sắp chết…”[10]

Và điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Khi một chủ thể thử nghiệm nghĩ rằng chỉ mình họ nghe thấy những tiếng kêu cứu, thì ngay lập tức họ xông ra hành lang. 100% những người thực hiện thí nghiệm này đều làm vậy, không một ai là không hành động.

Bên cạnh đó, một thí nghiệm khác cũng được tiến hành, giống như thí nghiệm trên, nhưng lần này đối tượng thí nghiệm được dẫn dắt để tin rằng có năm sinh viên khác đang ngồi trong các phòng gần đó và họ cũng nghe thấy những tiếng kêu cứu kia. Kết quả là chỉ 62% những người thực hiện thí nghiệm này hành động trước tiếng kêu cứu.[11] Qua thí nghiệm trên chúng ta có thể nhận ra: hiệu ứng bàng quan✻.

Những phát hiện của Latané và Darley nằm trong số những đóng góp then chốt trong lĩnh vực tâm lý học xã hội. Trong 20 năm tiếp theo, hơn 1.000 cuốn sách cũng như bài báo được xuất bản với đề tài cách hành xử của những người ngoài cuộc trong những tình huống khẩn cấp.[12] Kết quả của những nghiên cứu này cũng giải thích sự thờ ơ của 38 nhân chứng ở Kew Gardens: Kitty Genovese chết không phải vì chẳng thể đánh thức cả khu phố bởi những tiếng thét của mình, mà chính vì cả khu phố đều nghe thấy tiếng hét của cô.

Điều này được minh họa qua lời kể của một cư dân trong tòa nhà sau này với một phóng viên. Lúc đó, chồng của bà định gọi điện báo cảnh sát, nhưng bà liền nói: “Chắc đã có tới 30 cuộc gọi rồi.”[13] Nếu như Kitty bị tấn công trong một ngõ vắng, với chỉ một nhân chứng thì có lẽ cô ấy đã sống sót.

Tất cả những điều này chỉ càng làm cho vụ sát hại Kitty thêm nổi tiếng hơn. Câu chuyện của cô đã được in trong những cuốn sách tâm lý học hàng đầu và tiếp tục được cánh nhà báo cùng giới nghiên cứu nhắc đến như một ví dụ điển hình cho đến tận hôm nay.[14] Nó không khác gì một câu chuyện ngụ ngôn thời hiện đại về sự ẩn danh nguy hiểm của cuộc sống ở những đô thị lớn.

03

Suốt nhiều năm, tôi cho rằng hiệu ứng bàng quan chỉ là một phần tất yếu của cuộc sống tại những đô thị. Nhưng một chuyện xảy ra ở chính thành phố nơi tôi làm việc – sự việc buộc tôi phải xem xét lại những nhận định của mình.

Chuyện xảy ra vào ngày 9 tháng 2 năm 2016. Lúc 4 giờ kém 15 phút chiều, Sanne đỗ chiếc Alfa Romeo màu trắng của cô trên Sloterkade, một con phố cạnh bờ kênh ở Amsterdam.[15] Cô ra khỏi xe và đi vòng về phía vỉa hè để đưa đứa con mới lẫm chẫm của mình ra khỏi ghế trong xe thì đột nhiên cô nhận ra chiếc xe hơi vẫn đang lăn bánh. Sanne vừa kịp nhảy vào phía sau vô lăng, nhưng đã quá muộn để khiến chiếc xe dừng lại, nó lao xuống kênh và bắt đầu chìm.

Tin rất buồn là: hàng chục người đi đường đứng nhìn sự việc đó xảy ra mà không hành động gì cả. Thậm chí có nhiều người nghe thấy cả những tiếng kêu thét của Sanne. Cũng như ở Kew Gardens, có những người đứng trong căn hộ nhìn xuống nơi xảy ra thảm họa. Và đây cũng là một khu vực sinh sống rất đẹp của những người thuộc tầng lớp trung lưu.

Nhưng rồi chuyện bất ngờ xảy ra. “Giống như phản ứng tức thời,” Ruben Abrahams, chủ một công ty môi giôi bất động sản ở ngay góc phố, sau này kể lại với một phóng viên truyền hình. “Chiếc xe rơi xuống nước ư? Không hay chút nào.”[16] Rồi ông liền chạy đi kiếm một cái búa trong hộp dụng cụ ở văn phòng mình, sau đó lao mình xuống con kênh lạnh buốt.

Ruben, một người đàn ông vạm vỡ, cao lớn với bộ râu lởm chởm, gặp tôi vào một ngày tháng Giêng lạnh giá để chỉ cho tôi nơi xảy ra sự việc. Ông kể: “Một trong những sự trùng hợp kì quái khi mọi chuyện kéo đến cùng lúc chỉ trong chớp mắt.”

Khi Ruben nhảy xuống kênh, Rienk Kentie – cũng là một người đứng xem – bơi nhanh về phía chiếc ô tô đang chìm, còn Reinier Bosch – một người ngoài cuộc khác – cũng nhảy xuống nước. Ngay khoảnh khắc cuối cùng, một người phụ nữ kịp đưa cho Reinier một hòn gạch, thứ chỉ một lát sau sẽ phát huy tác dụng. Wietse Mol – người ngoài cuộc thứ tư – vớ lấy một cây búa khẩn cấp trong xe của mình và là người cuối cùng lao xuống.

“Chúng tôi bắt đầu đập cửa xe,” Ruben nhớ lại.[17] Reinier tìm cách đập vỡ một cửa bên, nhưng không ăn thua. Trong khi đó, chiếc xe nghiêng đi và dần chìm xuống, mũi xe thì chìm hẳn dưới nước. Reinier liền dùng hòn gạch giáng mạnh xuống cửa sau. Cuối cùng, cửa kính bắt đầu rạn.

Sau đó, mọi thứ diễn ra rất nhanh. “Người mẹ trao đứa trẻ cho tôi qua cửa phía sau,” Ruben kể tiếp. Nhất thời, đứa trẻ bị kẹt, nhưng vài giây sau, Ruben và Reinier đã tìm cách giải thoát được em bé. Reinier bơi và đưa đứa trẻ tới nơi an toàn. Cùng với người mẹ vẫn ở bên trong chiếc xe, chỉ một chút nữa là chiếc xe chìm hẳn xuống. Vừa hay, Ruben, Rienk và Wietse giúp cô ấy thoát ra ngoài.

Không đầy hai giây sau, chiếc xe chìm nghỉm dưới làn nước.

Lúc bấy giờ, một đám đông những người ngoài cuộc đứng vây kín trên bờ. Họ giúp nâng người mẹ và đứa trẻ cùng bốn người đàn ông ra khỏi làn nước, rồi lấy khăn bông quấn lấy họ.

Cuộc giải cứu diễn ra trong khoảng thời gian chưa đầy hai phút. Trong suốt khoảng thời gian ấy, bốn người đàn ông – những người hoàn toàn xa lạ với nhau – không hề trao đổi một lời. Nếu bất kì ai trong số họ chần chừ thêm dù chỉ một chớp mắt thì cũng là quá muộn. Nếu cả bốn người không nhảy xuống, cuộc giải cứu có thể đã thất bại. Và nếu người ngoài cuộc vô danh kia không trao cho Reinier một hòn gạch vào khoảnh khắc cuối cùng, thì anh ấy không thể đập vỡ được cửa sau để cứu người mẹ cùng đứa trẻ ra ngoài.

Nói cách khác, Sanne và đứa con của cô sống sót không phải bởi những người ngoài cuộc, mà vì nhờ có họ giúp đỡ.

04

Giờ, bạn có thể nghĩ câu chuyện trên thật cảm động. Chắc chắn ai cũng đều cảm thấy như vậy! Nhưng có lẽ nó là một trường hợp ngoại lệ, nằm ngoài hiệu ứng bàng quan. Phải chăng có điều gì đó thật đặc biệt trong văn hóa của người Hà Lan hay ở khu Amsterdam này, hay thậm chí ở bốn người đàn ông đã cứu Sanne, là nguyên nhân dẫn đến cuộc giải cứu bất thường này?

Ngược lại, mặc dù hiệu ứng bàng quan vẫn được nhắc đến trong nhiều cuốn sách giáo khoa, tuy nhiên một phân tích tổng hợp khá đầy đủ được xuất bản vào năm 2011 đã soi chiếu bằng một góc nhìn mới lên những điều mà người ngoài cuộc đã làm trong những tình huống khẩn cấp. Phân tích tổng hợp này là nghiên cứu về các cuộc nghiên cứu, nghĩa là nó phân tích một nhóm rất nhiều nghiên cứu khác nhau. Phân tích tổng hợp này đã rà soát 105 nghiên cứu quan trọng nhất về hiệu ứng bàng quan từ 50 năm qua, bao gồm cả thí nghiệm đầu tiên của Latané và Darley (với những sinh viên trong một căn phòng).[18]

Bản phân tích về các nghiên cứu này đã rút ra hai nhận xét hết sức thấu đáo như sau. Một là hiệu ứng bàng quan có tồn tại. Nhiều khi chúng ta nghĩ mình không cần can thiệp vào các tình huống khẩn cấp vì người khác sẽ làm tốt hơn chúng ta. Đôi khi chúng ta sợ mình làm sai, sợ bị khiển trách nên không dám can thiệp. Và nhiều khi đơn giản là chúng ta không nghĩ có điều gì không ổn vì chúng ta thấy rằng chẳng có ai hành động.

Vậy còn nhận xét thứ hai là gì? Nếu tình huống khẩn cấp đe dọa đến tính mạng (ai đó đang chết chìm hoặc bị tấn công) và nếu những người ngoài cuộc có thể giao tiếp với nhau (họ không bị chia tách trong các căn phòng riêng biệt), thì khi đó sẽ xảy ra hiệu ứng bàng quan đảo ngược. Tác giả bài báo viết: “Nếu có thêm người ngoài cuộc thì nạn nhân sẽ nhận được nhiều sự giúp đỡ hơn, chứ không phải là bớt đi.”[19]

Không dừng lại ở đó. Vài tháng sau khi phỏng vấn Ruben về nỗ lực giải cứu bộc phát của ông, tôi hẹn gặp nhà tâm lý học người Đan Mạch Marie Lindegaard tại một quán cà phê ở Amsterdam. Sau khi rũ bớt những giọt nước mưa vương trên áo, bà ngồi xuống, mở máy tính xách tay, đặt một tập giấy trước mặt tôi và bắt đầu buổi nói chuyện.

Lindegaard là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên hỏi tại sao chúng ta lại nghĩ đến những thí nghiệm, bảng câu hỏi và các cuộc phỏng vấn rối rắm. Tại sao chúng ta không nghiên cứu những thước phim thực về những con người thực trong những tình huống thực? Rốt cuộc, các thành phố hiện đại nhan nhản các máy quay cơ mà.

Các đồng nghiệp của Marie nói đó là một ý tưởng thật tuyệt vời nhưng chúng ta sẽ không bao giờ có thể chạm tay được vào những thước phim ấy. Marie đáp lại: Chúng ta sẽ xem xét việc đó. Hiện tại, Marie có một cơ sở dữ liệu chứa hơn 1.000 video ở Copenhagen, Cape Town, London và Amsterdam. Chúng ghi lại những cuộc cãi lộn, cưỡng hiếp và cả kế hoạch giết người, và những phát hiện của bà là khởi đầu cho một cuộc cách mạng nhỏ trong các ngành khoa học xã hội.

Bà quay máy tính về phía tôi. “Anh hãy xem bài viết này đi, ngày mai chúng tôi nộp nó cho một tạp chí tâm lý học hàng đầu thế giới.”[20]

Tôi đọc tiêu đề: Hầu hết mọi thứ bạn nghĩ là mình biết về hiệu ứng bàng quan đều sai.

Sau đó Lindegaard chỉ vào một bảng: “Xem này, ở đây ta có thể thấy rằng trong 90% các trường hợp khi thấy ai đó gặp khó khăn, những người xung quanh sẽ giúp đỡ nhau.”

Chín mươi phần trăm.

05

Vậy thì chẳng có gì là kì lạ khi Ruben, Reinier, Rienk và Wietse lao xuống dòng nước lạnh buốt của một con kênh ở Amsterdam vào buổi chiều tháng 2 đó. Đó là một phản ứng tự nhiên. Một câu hỏi được đặt ra là: Đã xảy ra chuyện gì vào ngày 13 tháng 3 năm 1964, cái đêm mà Kitty Genovese bị sát hại? Và câu chuyện nổi tiếng đó có bao nhiêu phần trăm là sự thật?

Một trong những người đầu tiên nghi ngờ sự dửng dưng, thờ ơ của các nhân chứng là một người mới đến khu Kew Gardens, Joseph De May. Sử gia nghiệp dư này chuyển đến đó 10 năm sau cái chết của Kitty và ông rất tò mò với vụ giết người đã khiến khu này trở nên nổi tiếng một cách bất đắc dĩ. Sau đó, De May quyết định thực hiện một nghiên cứu của riêng mình, ông bắt đầu rà soát các lưu trữ, lật giở những tấm ảnh bạc phếch trên các trang báo đã cũ mèm và các báo cáo của cảnh sát. Khi ông bắt đầu xâu chuỗi những chi tiết liên quan đến vụ án cách tuần tự, một bức tranh về những gì thực sự xảy ra vào đêm hôm đó dần hiện ra.

Chúng ta hãy xem xét lại từ đầu. Đây là những sự kiện đã diễn ra vào ngày 13 tháng 3 năm 1964, lần này dựa vào cuộc điều tra công phu mà De May và những người theo bước ông đã thực hiện.[21]

Vào 3 giờ 19 phút sáng, tiếng kêu hãi hùng xé toang sự im ắng của con phố Austin. Ngoài trời đang rất lạnh và hầu hết các nhà đều đóng cửa sổ. Những ngọn đèn trên phố tuy đã được thắp lên nhưng lại tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt đến đáng thương. Nghe thấy tiếng hét, hầu hết mọi người đều nhìn ra ngoài nhưng không nhận thấy bất kì điều gì khác lạ. Vài người nhận ra bóng của một phụ nữ đang lảo đảo trên phố nhưng họ cho rằng cô ấy đang say rượu. Chuyện đó chẳng hề bất thường, vì có một quán rượu ngay trên con phố này.

Tuy nhiên, có ít nhất hai cư dân đã nhấc điện thoại và gọi cho cảnh sát. Một trong số đó là cha của Michael Hoffmann, người cảnh sát tham gia điều tra vụ án này, và người kia là Hattie Grund, sống trong một căn hộ gần đó. Nhiều năm sau bà vẫn còn nhớ: “Họ nói đã có nhiều người gọi điện báo rồi.”[22]

Nhưng cảnh sát không đến. Cảnh sát không đến ư? Tại sao họ không rời đồn, hú còi inh ỏi chứ?

Dựa vào thông tin của những cuộc gọi đầu tiên cung cấp, cảnh sát cho rằng đây là một vụ vợ chồng cãi vã đơn thuần. Hoffmann, giờ đã về hưu, tiết lộ rằng đó là lý do họ đến hiện trường chậm trễ như vậy. Hãy nhớ rằng thời đó, mọi người không chú ý nhiều đến việc chồng đánh vợ, thời mà chuyện cưỡng hiếp giữa vợ chồng thậm chí còn không phải là tội.

Nhưng còn 38 nhân chứng kia thì sao?

Con số tai tiếng này xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, từ bài hát, kịch đến phim bom tấn và cả những cuốn sách nằm trong top bán chạy. Đặc biệt, đó là con số được lấy từ một bản danh sách tất cả những người được các điều tra viên thẩm vấn trong vụ việc. Và tuyệt đại đa số các tên gọi trong bản danh sách đó lại không phải là nhân chứng thực sự. Nhiều người không hề nghe thấy gì, họ còn không hề thức dậy.

Có hai trường hợp ngoại lệ. Một là Joseph Fink, hàng xóm trong cùng dãy nhà. Fink là một ông già cô độc được biết đến là rất ghét người Do Thái (trẻ con trong khu gọi ông ấy là “Adolf”). Ông vẫn thức khi sự việc xảy ra, ông cũng nhìn thấy lần tấn công đầu tiên nhằm vào Kitty, tuy nhiên ông ấy không làm gì cả.

Người thứ hai bỏ mặc Kitty cho số phận là Karl Ross, một hàng xóm là bạn bè với cô và Mary Ann. Cá nhân Ross chứng kiến lần tấn công thứ hai ở lối cầu thang (thực tế, có hai lần tấn công, không phải ba), nhưng anh ta hoảng sợ và bỏ đi. Ross cũng là người nói với cảnh sát anh ta “không muốn bị liên đới” – nhưng ý nghĩa thực sự là anh ta không muốn bị nhiều người biết. Đêm đó anh ta say khướt, và sợ bị lộ rằng mình là người đồng tính nam.

Thời đó, tình dục đồng giới bị coi là bất hợp pháp, và Ross sợ cả cảnh sát lẫn cánh báo chí như New York Times, vốn bêu riếu tình dục đồng giới như một căn bệnh nguy hiểm.[23] Năm 1964, những người đồng tính nam thường xuyên bị cảnh sát bạo hành, còn báo chí thường xuyên khắc họa tình dục đồng giới như một bệnh dịch đáng sợ. (Đặc biệt Abe Rosenthal, biên tập viên phụ trách viết bài về vụ của Kitty, khét tiếng là người ghê sợ đồng tính luyến ái. Không lâu trước vụ sát hại Kitty, ông xuất bản một bài viết: Tình dục đồng giới ngày càng công khai trong thành phố gây ra những quan ngại lớn).[24]

Dĩ nhiên, những điều này không thể biện hộ cho sự dửng dưng và thờ ơ của Karl Ross. Thậm chí, nếu anh ta say và sợ thì anh ta vẫn nên làm điều gì đó để giúp nạn nhân. Thay vào đó, anh ta gọi cho một người bạn khác, người này lập tức giục anh ta gọi cho cảnh sát. Nhưng Ross không dám gọi điện thoại từ căn hộ của mình, thay vào đó, anh ta trèo lên nóc nhà sang nhà hàng xóm kế bên mình và đánh thức người phụ nữ trong căn nhà đó.

Người phụ nữ đó là Sophia Farrar. Khi Sophia nghe nói rằng Kitty đang nằm chảy máu dưới cầu thang, bà ấy không ngần ngại, chạy ngay ra khỏi căn hộ của mình, mặc kệ chồng mình vẫn còn đang mặc quần dài và gọi với theo bảo bà đợi. Theo những gì Sophia kể, thời khắc đó, bà nghĩ mình cần phải làm gì đó, ngay cả việc sẵn sàng lao thảng vào kẻ sát nhân. “Tôi chạy tới giúp. Đó là phản ứng hết sức tự nhiên mà bất kì ai trong trường hợp của tôi đều sẽ làm vậy.”[25]

Khi bà mở cửa ra cầu thang nơi Kitty nằm, tên sát nhân đã bỏ đi. Sophia choàng tay quanh người Kitty và cô ấy gục hẳn vào bà. Đây chính là cách Catherine Susan “Kitty” Genovese thật sự ra đi: được ôm trong vòng tay của người hàng xóm. “Khi biết rằng Kitty chết trong vòng tay của người hàng xóm, điều đó giúp gia đình tôi cảm thấy được an ủi,” anh trai Kitty là Bill đã nói như vậy khi ông nghe được câu chuyện này nhiều năm sau.[26]

Tại sao Sophia bị lãng quên?

Tại sao bà ấy không được nhắc đến trong bất kì bài báo nào?

Sự thật vô cùng đau lòng. Con trai bà kể, “Mẹ tôi có kể câu chuyện đó với một nữ phóng viên của một tờ báo”, nhưng khi bài báo được in vào ngày hôm sau, họ lại viết rằng Sophia không muốn bị dính líu. Bà đã rất giận dữ khi đọc được bài báo đó và thề sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi của bất kì một nhà báo nào nữa.

Sophia không phải là trường hợp duy nhất bị giới báo chí cố tình bóp méo lời nói. Thực tế, hàng chục cư dân ở Kew Gardens phản ánh rằng những lời kể của họ liên quan đến vụ án đã bị báo chí xuyên tạc, phóng viên thì ào ào kéo tới quấy rầy đến mức nhiều người đã phải chuyển đi. Ngày 11 tháng 3 năm 1965, hai ngày trước lễ tưởng niệm một năm vụ án của Kitty, một phóng viên đã nghĩ ra trò đùa là tới Kew Gardens và kêu cứu lúc nửa đêm. Các tay máy chờ sẵn, sẵn sàng chụp các phản ứng của cư dân.

Toàn bộ tình huống này thật điên khùng. Cũng năm đó chủ nghĩa tích cực bắt đầu phát triển ở thành phố New York, Martin Luther King được trao giải Nobel Hòa bình, hàng triệu người Mỹ bắt đầu tuần hành trên đường phố và Queens có hơn 200 tổ chức cộng đồng, báo chí nói về nỗi ám ảnh mà nó rêu rao như là một “đại dịch của sự dửng dưng”.

Một nhà báo đồng thời là phóng viên phát thanh Danny Meenan tỏ ra hoài nghi với câu chuyện về những người ngoài cuộc vô tư lự. Khi ông kiểm tra các dữ kiện có được, ông thấy rằng hầu hết các nhân chứng đều khai rằng họ nghĩ đã nhìn thấy một phụ nữ say rượu vào đêm đó. Khi Meenan hỏi một phóng viên tờ New York Times rằng tại sao anh ta không đưa thông tin đó vào bài viết của mình, anh trả lời: “Nó sẽ làm hỏng bài báo.”[27]

Vậy tại sao Meenan lại giữ điều này cho riêng mình? Do bản năng tự bảo vệ. Thời đó, không nhà báo đơn lẻ nào dám đối đầu với những tờ báo quyền lực nhất thế giới – không đời nào, nếu họ muốn tiếp tục làm công việc của mình.

Vài năm sau, khi một phóng viên khác phát biểu một ý kiến chỉ trích, anh ta liền nhận được một cú điện thoại giận dữ từ Abe Rosenthal của tờ New York Times. “Anh có nhận thấy rằng câu chuyện này trở thành tình huống tiêu biểu về thái độ của người Mỹ không?” Vị biên tập viên hét lên trong điện thoại. “Nó sẽ trở thành chủ đề trong các khóa đào tạo, những cuốn sách và những bài nghiên cứu trong ngành xã hội học không?”[28]

Thật sốc khi câu chuyện ban đầu bị bóp méo, chỉ còn một chút sự thật được giữ lại. Trong cái đêm định mệnh đó, không phải những công dân New York bình thường, mà là giới chức đã thất bại. Kitty không chết một mình, mà trong vòng tay của một người bạn. Và khi đề cập đến nó, phản ứng của những đã từng chứng kiến và đứng ngoài cuộc lại hoàn toàn trái ngược với những điều mà từ lâu khoa học khăng khăng cho là đúng. Chúng ta không hề đơn độc trong các thành phố lớn, trên tàu điện ngầm, trên những con phố đông đúc. Chúng ta có nhau.

Và câu chuyện của Kitty không kết thúc ở đó. Còn một bước ngoặt quan trọng cuối cùng.

Năm ngày sau cái chết của Kitty, Raoul Cleary, một cư dân ở Queens, để ý thấy một kẻ lạ mặt trên con phố nhà mình. Gã đi ra từ nhà một người hàng xóm giữa ban ngày ban mặt, mang theo một chiếc tivi. Khi Raoul chặn gã lại, gã tự nhận mình là nhân viên dọn nhà.

Nhưng Raoul vẫn nghi ngờ và gọi cho nhà hàng xóm đó, Jack Brown.

“Có đúng nhà Bannister chuyển đi không?”, anh hỏi.

“Hoàn toàn không,” Brown trả lời.

Hai người không chút lưỡng lự. Trong khi Jack vô hiệu hóa chiếc xe của gã kia thì Raoul gọi cho cảnh sát đến bắt giữ tên trộm ngay khi hắn xuất hiện trở lại. Chỉ vài tiếng sau, gã đàn ông nhận tội. Hắn không chỉ đột nhập vào nhà, mà còn sát hại một phụ nữ trẻ ở Kew Gardens.[29]

Đúng vậy, kẻ giết hại Kitty bị tóm nhờ sự can thiệp của hai người trong khu phố đó, tuy nhiên không một tờ báo nào đưa tin về sự việc này.

Đây là câu chuyện thật về Kitty Genovese. Nó là một câu chuyện mà nhiều người cần phải đọc, không chỉ với các sinh viên tâm lý học năm thứ nhất, mà cả các nhà báo cũng vậy. Đó là vì nó dạy cho chúng ta ba điều. Một, quan điểm của chúng ta về bản chất con người thường sai lệch như thế nào. Hai, cách các nhà báo thêm thắt để bán những câu chuyện mới khéo léo làm sao. Và, cuối cùng nhưng chưa hết, chúng ta hoàn toàn khẳng định được rằng trong những tình huống khẩn cấp chúng ta có thể tìm được sự giúp đỡ từ bất kì ai kể cả những người xa lạ..

Khi chúng tôi nhìn qua con kênh ở Amsterdam, tôi hỏi Ruben Abrahams liệu ông ấy có thấy mình giống như một người hùng sau khi nhảy xuống con kênh đó không. Ông nhún vai và nói: “Không hề, trong cuộc sống bạn phải biết quan tâm đến người khác.”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.