Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 3

SỰ KHAI SÁNG GÂY RA NHỮNG HẬU QUẢ GÌ?

01

Sau khi tìm hiểu về lĩnh vực tâm lý học quyền lực, tôi bỗng nhớ lại câu chuyện ở Phần Mở đầu của cuốn sách này. Nó gây ấn tượng với tôi rằng, về cơ bản, những bài học ở các chương trước đều có thể tìm thấy trong câu chuyện về chiến dịch Blitz, về những điều đã diễn ra ở London khi bom rơi.

Giới chức Anh đã dự báo về việc tâm lý hoảng loạn sẽ lan rộng trong nhân dân. Cướp bóc. Bạo loạn. Những khủng hoảng này chắc chắn phơi bày những tính cách hung bạo nhất bên trong chúng ta, đẩy chúng ta vào cuộc chiến mà tất cả chống lại tất cả. Nhưng thực tế lại xảy ra theo hướng hoàn toàn ngược lại. Trong thảm họa, con người đã phát huy những phẩm chất tốt đẹp nhất. Cứ như thể chúng bật sẵn một công tắc cài đặt lại cả một tập thể và rồi chúng ta trở lại với bản ngã tử tế của mình.

Bài học thứ hai của chiến dịch Blitz đó là: chúng ta là những động vật sống theo bầy đàn. Cư dân sống tại London cho rằng sự can đảm của họ dưới mưa bom bão đạn là phẩm chất tinh hoa của Anh quốc. Họ coi sự kiên cường giống với môi trên cứng đờ hay khiếu hài hước khô cứng của mình – một nhân tố nữa trong nền văn hóa họ cho là ở bậc cao hơn. Ở Chương 10, chúng ta thấy rằng kiểu xu hướng nhóm này rất đặc trưng ở con người. Chúng ta thường có khuynh hướng suy nghĩ theo kiểu “chúng ta” và “họ”. Bi kịch của chiến tranh là ở chỗ trong nó đều là những phẩm chất tốt đẹp nhất của bản chất con người – trung thành, tình bạn, sự đoàn kết – truyền cảm hứng cho giống loài Homo puppy cầm lấy vũ khí và chiến đấu.

Tuy nhiên, một khi chúng ta chiến đấu ở tuyến đầu, chúng ta thường đánh mất tinh thần chiến đấu anh dũng của mình. Trong Chương 4 và Chương 10 chúng ta thấy rằng con người có thái độ thù ghét sâu xa đối với bạo lực. Trong hàng thế kỉ, nhiều binh sĩ thậm chí còn không đủ can đảm để bóp cò súng. Không dám dùng lưỡi lê. Hầu hết những người bị thương đều do những người ở xa gây ra, họ là các phi công hay những tay súng không bao giờ cần nhìn vào mắt kẻ thù. Đây cũng là một bài học của chiến dịch Blitz, những cuộc tấn công tồi tệ nhất lại đến từ tận tít trên cao.

Khi người Anh lên kế hoạch phản công bằng một chiến dịch oanh tạc, thì chính ảnh hưởng tha hóa của quyền lực đã nuôi dưỡng đầu óc xấu xa của họ. Frederick Lindemann, một thành viên trong nhóm thân cận với Churchill, gạt bỏ mọi bằng chứng cho rằng bom đạn không đánh gục được nhuệ khí. Ông ấy khẳng định rằng mình sẽ khiến người Đức phải khuất phục, và bất kì ai định phản đối ông ấy đều bị gán mác phản bội tổ quốc.

“Thực tế, chính sách ném bom được thông qua với rất ít phản đối là ví dụ điển hình về khả năng thôi miên của quyền lực,” một sử gia nhận xét.[1]

Và điều đó dẫn chúng ta đến câu trả lời cho câu hỏi mà Hobbes và Rousseau nêu ra. Câu hỏi: Bản tính con người là thiện hay ác?

Có hai mặt trong câu trả lời này, vì giống loài Homo puppy là một sinh vật luôn đầy sự đối nghịch. Trước hết, chúng ta là một trong những giống loài thân thiện nhất của giới động vật. Trong phần lớn lịch sử nhân loại, chúng ta sống ở một thế giới khá bình đẳng, không có vua chúa hay quý tộc, tổng thống hay CEO. Họa hoằn mới có cá nhân leo lên nắm quyền, nhưng, như chúng ta thấy ở Chương 11, họ bị lật đổ rất nhanh.

Sự đề phòng mang tính bản năng của chúng ta với người lạ không đặt ra những vấn đề lớn suốt một thời gian dài. Chúng ta biết tên tuổi và mặt mũi bạn bè mình, và nếu chúng ta có gặp một người lạ, chúng ta dễ dàng tìm thấy điểm chung. Chẳng có quảng cáo hay tuyên truyền, không tin tức hay chiến tranh nhằm đặt con người vào thế đối lập. Chúng ta thoải mái rời khỏi một nhóm và gia nhập nhóm khác trong quy trình tạo dựng nên các mạng lưới quan hệ mở rộng.

Nhưng rồi, 10.000 năm trước, rắc rối bắt đầu.

Từ lúc chúng ta bắt đầu định cư ở một nơi và tích góp của cải riêng, bản năng nhóm của chúng ta không còn vô hại nữa. Kết hợp với tình trạng khan hiếm và hệ thống tôn ti trật tự, nó trở nên vô cùng độc hại. Và một khi các thủ lĩnh bắt đầu nuôi dưỡng quân đội để phục vụ mệnh lệnh thì không còn gì ngăn cản những tác động tha hóa của quyền lực nữa.

Trong thế giới mới của những người nông dân và chiến binh, thành phố và nhà nước, chúng ta đứng giữa một đường kẻ mỏng manh giữa sự thân thiện và tâm lý bài ngoại. Chúng ta khát khao cảm giác thuộc về nhau, và chọn cách xua đuổi những người bên ngoài. Chúng ta thấy thật khó để từ chối những thủ lĩnh của mình – thậm chí ngay cả khi họ khiến chúng ta rơi vào những sai lầm của lịch sử. Từ buổi bình minh của nền văn minh, khía cạnh xấu xa nhất của giống loài Homo puppy đã thống trị. Các cuốn sách sử ghi chép lại vô số cuộc tàn sát của người Do Thái và La Mã, Hung Nô và Vandal, Công giáo và Tin Lành, và còn nhiều nữa. Chỉ những cái tên là thay đổi còn cơ chế thì vẫn y nguyên: một khi được truyền cảm hứng bởi tình bằng hữu và bị những kẻ có thế lực yếm thế sách động, con người sẽ làm những việc kinh khủng nhất với nhau.

Đây là tình thế khó khăn đối với chúng ta trong hàng nghìn năm. Thậm chí, các bạn có thể xem lịch sử về nền văn minh như một thiên anh hùng ca tranh đấu chống lại sai lầm lớn nhất mọi thời đại. Giống loài Homo puppy là loài động vật bị đẩy ra khỏi môi sinh tự nhiên của mình. Một loài động vật phơi bày gan ruột mình ra để vượt qua “sự ghép đôi lệch” sâu sắc. Suốt hàng nghìn năm, chúng ta ra sức loại bỏ bệnh tật, chiến tranh và áp bức mà tôi đã viết trong Chương 5 – như một nỗ lực để giải lời nguyền của nền văn minh.

Và xem ra, cho đến gần đây thôi chúng ta mới làm được điều đó.

02

Đầu thế kỉ 17, một trào lưu khởi phát mà giờ chúng ta gọi là “Khai sáng”. Đó là một cuộc cách mạng triết học. Các nhà triết học Khai sáng đặt nền móng cho thế giới hiện đại, từ pháp trị cho tới dân chủ, từ giáo dục tới khoa học.

Mới đầu, các nhà triết học Khai sáng như Thomas Hobbes dường như không khác với các thầy tu và giáo sĩ là mấy. Tất cả lý thuyết mà họ đưa ra đều dựa trên giả định rằng bản chất con người là tha hóa. Triết gia người Scotland là David Hume đã tổng kết quan điểm của triết học thời kì Khai sáng đó là “mọi người được coi là kẻ bất lương, và mọi hành động mà họ thực hiện không nhắm đến một mục đích nào khác ngoài mục đích tư lợi”.[2]

Thế nhưng, theo những nhà triết học này, có một cách rất hiệu quả giúp chúng ta kiềm chế thói tư lợi của mình. Họ nói, loài người chúng ta sở hữu một khả năng phi thường, một sự bù đắp giúp tách chúng ta khỏi các sinh vật khác. Khả năng này giống như một điểm tựa cho chúng ta bấu víu. Khả năng này cũng là một phép màu mà chúng ta có thể gắn mọi hi vọng của mình vào đó. Chính là lý trí.

Không phải sự thấu cảm, không phải cảm xúc hay tín điều.

Lý trí.

Nếu các triết gia ở thời kì Khai sáng đặt niềm tin của họ vào một điều gì đó, thì đó chính là sức mạnh của những suy nghĩ duy lý. Họ bị thuyết phục bởi ý tưởng con người có thể vạch ra những thể chế thông minh từ sự ích kỉ bẩm sinh của chúng ta. Họ tin rằng chúng ta có thể phủ một lớp văn minh lên những bản năng tăm tối của mình. Hay chính xác hơn là chúng ta có thể tranh thủ những thói xấu của mình để phục vụ cho điều tốt đẹp.

Nếu có một tội lỗi mà các nhà tư tưởng Khai sáng tán thành, thì đó là lòng tham mà họ lan truyền dưới khẩu hiệu “thói xấu riêng, lợi ích chung”.[3] Điều này đại diện cho quan niệm bào chữa rằng kiểu ứng xử mang tính chống đối xã hội ở cấp độ cá nhân có thể có lợi cho xã hội hơn. Nhà kinh tế học thời kì Khai sáng Adam Smith nêu ra ý tưởng này trong tác phẩm kinh điển The Wealth of Nations (tạm dịch: Của cải của các quốc gia, xuất bản năm 1776), đây là cuốn sách đầu tiên bảo vệ cho những nguyên tắc của thị trường tự do. Trong đó, ông viết một câu rất nổi tiếng: “Không phải từ sự tử tế của người bán thịt, người nấu bia hay thợ làm bánh mà chúng ta có được bữa tối, mà nhờ vào lợi ích cá nhân của họ. Chúng ta không trông chờ ở sự nhân đạo của họ, mà ở tính tự ái của họ, và chớ bao giờ nói với họ về nhu cầu của chúng ta, mà về những mối lợi của họ”.

Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng, không nên đè nén thói ích kỉ, mà nên giải phóng chúng. Theo cách này, sự thèm khát của cải sẽ khiến người ta làm những điều mà không một đội quân thuyết giáo nào có thể làm được, đó là đoàn kết mọi người khắp thế giới lại với nhau. Ngày nay, khi chúng ta thanh toán các sản phẩm mua ở siêu thị, đồng nghĩa với việc chúng ta đang hợp tác với hàng nghìn người khác đang tham gia vào quá trình sản xuất cũng như phân phối những hàng hóa trong xe đẩy hàng của chúng ta. Chúng ta làm điều này không xuất phát từ sự tử tế trong tâm hồn, mà vì chúng ta đang chăm lo cho bản thân.

Các nhà tư tưởng thời kì Khai sáng sử dụng chính nguyên tắc đó để củng cố mô hình nền dân chủ hiện đại. Hãy xem bản Hiến pháp Hoa Kỳ, bản hiến pháp lâu đời nhất thế giới mà vẫn còn hiệu lực. Được những Người cha Lập quốc soạn ra, tiền đề của bản hiến pháp này dựa trên quan điểm bi quan của họ rằng bản chất ích kỉ của con người cần phải được kiềm chế và kiểm soát. Theo hướng này, họ đặt ra một hệ thống “kiểm soát và cân bằng”, trong đó mọi người đều để mắt đến nhau.

Ý tưởng là nếu những người có quyền lực (từ cánh tả đến cánh hữu, đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ), trong toàn bộ thiết chế chính quyền (Thượng viện và Hạ viện, Nhà Trắng và Tòa án Tối cao), kiểm soát lẫn nhau, thì khi đó người dân Mỹ có thể sống hòa thuận với nhau, bất chấp bản chất tha hóa của họ.[4] Các nhà tư tưởng tin rằng, cách duy nhất nhằm tránh được việc các chính trị gia trở nên tha hóa đó là để các chính trị gia kiểm soát lẫn nhau. Nói theo lời của chính khách Mỹ, James Madison thì đó là: “Tham vọng được tạo ra để dung hòa tham vọng.”

Bên cạnh đó, thời đại này cũng chứng kiến sự ra đời của nền pháp trị hiện đại. Đây là một liều thuốc giải độc khác cho những bản năng đen tối hơn của chúng ta, vì Nữ thần Công lý theo truyền thuyết là bị mù, không vướng bận bởi sự thấu cảm, yêu thương hay bất kì định kiến nào, công lý chỉ do lý trí điều khiển mà thôi. Tương tự, chính lý trí cung cấp nền móng cho các hệ thống quan liêu mới của chúng ta, nhất nhất tuân theo những thủ tục, quy tắc và luật lệ đã đặt ra.

Từ nay trở đi, bạn có thể làm ăn với bất kì người nào bạn thích, bất kể tôn giáo hay tín điều nào của họ. Một tác dụng phụ của lý trí là ở những quốc gia với nền pháp trị nghiêm minh, việc đảm bảo các quy định và hợp đồng sẽ được đề cao, niềm tin vào một vị Chúa hay trả thù sẽ dần tiêu tan. Niềm tin vào Chúa Cha sẽ được thay thế bằng niềm tin vào nhà nước. Với sự xuất hiện của thời kì Khai sáng, tôn giáo đành chấp nhận một cách tiếp cận thân thiện hơn. Ngày nay, rất ít nhà nước còn chiều theo con mắt phán xét của Chúa, và thay vì kêu gọi những cuộc viễn chinh đẫm máu, các vị giáo hoàng đã đưa ra những bài giảng thuyết đầy ấn tượng về “một cuộc cách mạng của lòng nhân hậu”.[5]

Liệu có phải là một sự trùng hợp không khi những người vô thần lại tập trung đông nhất ở những quốc gia như Đan Mạch hay Thụy Điển? Những quốc gia này cũng có nền pháp trị nghiêm minh và bộ máy chính quyền đáng tin cậy nhất.[6] Ở những quốc gia như thế này, tôn giáo đã bị hất văng ra. Giống như công nghệ sản xuất hàng loạt từng loại bỏ những thợ thủ công truyền thống, thì ngày nay Chúa mất việc bởi những công chức.

Vậy là chúng ta ở đây, một vài thế kỉ sau khi bước vào Kỉ nguyên Lý trí. Sau khi xem xét mọi vấn đề, chúng ta đi đến kết luận rằng thời kì Khai sáng là một bước đột phá của nhân loại, nó đã tạo ra Chủ nghĩa Tư bản, nền dân chủ và pháp trị. Qua những số liệu thống kê cụ thể, chúng ta thấy nhờ có thời kì này mà đời sống toàn nhân loại trở nên tốt hơn rất nhiều và thế giới giàu có hơn, an toàn và lành mạnh hơn hẳn trước kia.[7]

Chỉ 200 năm trước, bất kể bạn đang sống ở đâu trên thế giới, bất kì kiểu đời sống ổn định nào cũng đồng nghĩa với sự nghèo đói cùng cực. Ngày nay, điều này chỉ đúng với chưa đầy 10% dân số toàn cầu. Chúng ta đã giải quyết được dịch bệnh và những căn bệnh nguy hiểm, ngay cả khi tin tức dẫn dắt bạn có những suy nghĩ khác, thì vẫn phải thừa nhận rằng chỉ trong vài thập kỉ qua, mọi nguy cơ đe dọa đến con người như tỉ lệ tử vong trẻ em, đói nghèo đến các vụ giết người, thương vong do chiến tranh đều giảm một cách ngoạn mục.[8]

Vậy làm thế nào chúng ta có thể sống hòa hợp với nhau nếu chúng ta không tin tưởng những người xa lạ? Làm thế nào chúng ta có thể xua đuổi lời nguyền của văn minh, bệnh tật, nô lệ và áp bức từng giày vò chúng ta suốt cả 10.000 năm qua? Lý trí lạnh lùng, cứng rắn của thời kì Khai sáng đã giải quyết được những câu hỏi hóc búa này.

Và đó cũng là câu trả lời hay nhất, cho tới giờ.

Bởi vì chúng ta cũng cần thành thực với nhau, bên cạnh những mặt tích cực thì thời Khai sáng cũng tồn tại những mặt tối. Trong vài thế kỉ qua, chúng ta biết rằng Chủ nghĩa Tư bản có thể điên cuồng như kẻ khát máu, những người rối loạn nhân cách chống đối xã hội có thể nắm quyền lực và một xã hội do các luật lệ cùng giao thức chi phối không xem trọng cá nhân.

Các sử gia chỉ ra rằng nếu thời kì Khai sáng cho chúng ta sự bình đẳng, thì đồng thời nó cũng tạo ra sự phân biệt chủng tộc. Các triết gia thế kỉ 18 là những người đầu tiên phân loại con người thành các “chủng tộc” khác nhau. Chẳng hạn, David Hume viết rằng ông “có khuynh hướng nghi ngờ người da đen […] có bản chất thấp kém hơn người da trắng”. Tại Pháp, nhà triết học Voltaire bày tỏ sự tán đồng: “Nếu sự hiểu biết của họ về bản chất không khác chúng ta, thì ít nhất họ cũng thấp kém hơn chúng ta.” Những ý tưởng phân biệt chủng tộc như vậy được hiện thực hóa trong luật pháp và các quy tắc ứng xử. Thomas Jefferson, người chấp bút cho câu nói bất hủ “tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” trong bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, là một chủ nô. Ông cũng từng nói: “Tôi chưa bao giờ thấy một người da đen nói ra được một suy nghĩ vượt trên mức tường thuật đơn giản.”

Và sau này, một cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử đã xảy ra. Nạn tàn sát người Do Thái diễn ra ở nơi từng là cái nôi của thời kì Khai sáng. Nó được thực hiện bởi một bộ máy cực kì hiện đại và tinh nhuệ, trong đó việc quản lý các trại tập trung được giao cho Cục Hành chính và Kinh tế Trung ương của SS. Vì thế nhiều học giả đi đến chỗ coi việc tiêu diệt sáu triệu người Do Thái không chỉ là sự tột cùng của bạo tàn, mà còn là tột cùng của sự hiện đại.[9]

Những mâu thuẫn của thời kì Khai sáng càng hiển hiện rõ hơn khi chúng ta kiểm chứng việc khắc họa bản chất con người của nó. Ở bề mặt, các triết gia như David Hume và Adam Smith có quan điểm hoài nghi. Chủ nghĩa Tư bản hiện đại, dân chủ và pháp trị đều được sáng lập trên nguyên tắc rằng con người vốn ích kỉ. Nhưng nếu bạn đọc sách của họ, thì bạn sẽ nhận ra rằng các tác giả thời kì Khai sáng hoàn toàn không phải những người hoài nghi một cách cố chấp. 17 năm trước khi xuất bản The Wealth of Nations (đã trở thành cuốn Kinh thánh của Tư bản Chủ nghĩa), Adam Smith viết một tác phẩm tựa đề The Theory of Moral Sentiments (tạm dịch: Lý thuyết Tình cảm đạo đức). Trong đó, chúng ta tìm thấy những đoạn như sau:

Con người dù có ích kỉ đến mức nào thì rõ ràng luôn có một số nguyên tắc trong bản chất của họ, khiến họ quan tâm đến tài sản của người khác, và cho rằng hạnh phúc của họ là cần thiết mặc dù chẳng thu được lợi ích gì ngoại trừ sự khoái hoạt khi được nhìn thấy nó.

Các nhà duy lý có ảnh hưởng như Smith và Hume đều nhấn mạnh đến khả năng to lớn con người thể hiện về sự thấu cảm và lòng vị tha. Vậy tại sao khi đó, nếu tất cả các triết gia này đều hòa hợp với những phẩm chất đáng ngưỡng mộ của chúng ta, các thiết chế của họ (dân chủ, thương mại và công nghiệp) lại dựa trên chủ nghĩa bi quan? Tại sao họ vẫn tiếp tục nuôi dưỡng quan điểm tiêu cực về bản chất con người?

Chúng ta có thể lần ra câu trả lời ở một trong những cuốn sách của David Hume, trong đó vị triết gia người Scotland đã nói rất chính xác về sự mâu thuẫn này trong tư tưởng của thời kì Khai sáng:

“Do vậy, đó là một châm ngôn thuần chính trị, rằng bất cứ ai cũng có thể bị coi là một kẻ bất lương: mặc dù điều này có phần kì lạ, bởi trong chính trị một châm ngôn cần phải chính xác, mà thực tế thì điều trên lại không đúng.”

Nói cách khác, Hume tin rằng chúng ta nên hành động như thể con người có bản chất ích kỉ cho dù chúng ta thừa biết là không phải như vậy. Khi tôi nhận ra điều này, trong tâm trí tôi chợt lóe lên một từ duy nhất: hiệu ứng phản dược. Liệu đây có phải là điều mà thời kì Khai sáng – và, mở rộng ra, xã hội hiện đại của chúng ta – đang hiểu sai? Liệu chúng ta đang vận hành trên một quan điểm sai lầm về bản chất con người?

Trong Chương 1 chúng ta thấy rằng có những điều sẽ trở thành sự thật bởi vì chúng ta có niềm tin mạnh mẽ vào chúng – rằng chủ nghĩa bi quan trở thành lời tiên tri tự ứng nghiệm. Khi các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng ngay từ bẩm sinh con người vốn ích kỉ, họ ủng hộ những chính sách cổ vũ cho lối hành xử nhằm phục vụ bản thân. Khi các chính trị gia thuyết phục bản thân rằng chính trị là một trò chơi yếm thế, thì nó sẽ trở thành hiện thực.

Cho nên giờ đây chúng ta cần đặt ra câu hỏi: Liệu mọi thứ có thể trở nên khác đi hay không?

Liệu chúng ta có thể sử dụng đầu óc, lý trí của mình để tạo ra những thiết chế mới hay không? Một thiết chế vận hành trên một quan điểm hoàn toàn khác về bản chất con người? Sẽ ra sao nếu các trường học và doanh nghiệp, thành phố và quốc gia kì vọng những điều tốt đẹp nhất, thay vì phỏng đoán những điều xấu xa nhất nơi con người?

Những câu hỏi này là trọng tâm trong phần còn lại của cuốn sách này.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.