Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 4

BÍ ẨN ĐẢO PHỤC SINH

Cho đến giờ, toàn bộ hiểu biết của tôi về lịch sử nhân loại đã hoàn toàn thay đổi. Khoa học hiện đại đã nhanh chóng giải quyết lý thuyết vỏ ngoài về nền văn minh. Chúng ta tìm thấy ngày càng nhiều phản chứng trong những thập kỉ qua, và những phản chứng này sẽ còn tiếp tục nhiều lên. Phải thừa nhận rằng chúng ta sẽ không bao giờ hiểu hết về thời tiền sử, không bao giờ giải quyết được tất cả những câu hỏi xung quanh cuộc sống của tổ tiên chúng ta. Những mảnh ghép mà ngành khảo cổ học tìm thấy chỉ giải quyết được một phần tương đối những phỏng đoán của chúng ta, và chúng ta cũng cần hết sức thận trọng khi đưa ra dự đoán trong lĩnh vực nhân chủng học. Đó là lý do tôi muốn xem xét lần cuối những gì người ta làm khi phải tự mình xoay xở. Giả sử Mano và các cậu bé khác trong Chúa Ruồi phiên bản đời thực không bị bỏ lại hoang đảo một mình. Giả sử trên thuyền có thêm mấy cô gái, họ tiếp tục có con cháu, và người ta không tìm thấy Ata cho tới vài trăm năm sau. Chuyện gì sẽ xảy ra? Xã hội sẽ như thế nào khi phát triển trong sự cô lập? Dĩ nhiên chúng ta có thể tiếp nhận những gì chúng ta biết về đời sống tiền sử cho đến nay và cố hình dung ra nó. Khi bạn xem xét lỡ một nghiên cứu và có dẫn chứng đáng tin cậy, bạn không cần phải suy luận bất cứ điều gì. Trên một hòn đảo xa xôi từ lâu đã bị che mờ bởi những chuyện hoang đường và bí ẩn, những hiểu biết sâu sắc ở các chương trước cùng đan cài.

01

Khi còn trẻ, Jacob Roggeveen đã hứa với cha mình một điều: sẽ có ngày ông tìm thấy Vùng đất phương Nam. Một phát hiện như vậy sẽ bảo đảm được địa vị của ông trong nhóm các nhà thám hiểm nổi bật trong lịch sử, điều này cũng đồng nghĩa với việc gìn giữ được danh tiếng cho gia đình.

Vùng đất đó được cho là nằm đâu đó trên Thái Bình Dương. Là một chuyên gia vẽ bản đồ, cha của Jacob là Arent Roggeveen luôn tin rằng có sự tồn tại một lục địa như vậy để cân bằng các địa khối của bắc bán cầu. Và còn rất nhiều câu chuyện được các nhà hàng hải, lữ khách truyền tai nhau. Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Pedro Fernandes de Queirós mô tả Vùng đất phương Nam như một thiên đường trên trái đất, với những cư dân yêu chuộng hòa bình. Nơi đó có nước sạch, đất đai màu mỡ và – chi tiết nhỏ – hàng núi vàng bạc châu báu.

Đúng vào ngày 1 tháng 8 năm 1721, 40 năm sau khi cha ông qua đời, cuối cùng Jacob đã giương buồm. Đích đến chính là Vùng đất phương Nam. Từ con tàu chỉ huy Arend, ông chỉ huy một hạm đội ba chiếc tàu, 70 khẩu thần công và 244 thủy thủ. Vị đô đốc 62 tuổi hi vọng tràn trề sẽ làm lên lịch sử. Và đúng vậy, tuy nhiên ông không ngờ được điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Jacob Roggeveen sẽ không hề tìm thấy một nền văn minh mới nào. Ông phát hiện một nền văn minh cũ.[1]

Những điều xảy ra vào tám tháng sau không bao giờ thôi khiến tôi hết kinh ngạc. Vào Chủ nhật Phục Sinh năm 1722, một trong những chiếc tàu của Roggeveen giương cờ hiệu. Tàu Arend đến cạnh bên để xem thủy thủ đoàn đã nhìn thấy gì. Câu trả lời là gì? Đất liền. Họ thấy một hòn đảo nhỏ bên phải mạn tàu.

Hòn đảo được hình thành từ hàng trăm nghìn năm trước nơi có ba ngọn núi lửa hội tụ. Paasch Eyland (“Đảo Phục sinh”), tên thánh mà thủy thủ đoàn Hà Lan đặt cho hòn đảo, trải dài hơn 100 dặm vuông – giống như một nắm đất nhỏ trên Thái Bình Dương mênh mông. Có rất nhiều điều kì lạ mà Roggeveen tình cờ bắt gặp trên hòn đảo này.

Khi người Hà Lan tiếp cận hòn đảo, họ nhìn thấy một đám đông tụ tập trên bãi biển để đón họ. Roggeveen thấy bối rối. Làm thế nào họ đến được đây? Ông chẳng hề nhìn thấy chiếc thuyền đi biển nào. Thậm chí khó hiểu hơn nữa là những bức tượng lớn nằm rải rác trên đảo – moai, người dân đảo gọi như vậy – là những cái đầu khổng lồ nhô lên mặt đất, phần thân được chôn dưới đất thậm chí còn lớn hơn nữa, một số tượng cao tới gần 10 mét. Roggeveen thú nhận trong nhật kí của mình: “Chúng tôi không hiểu nổi, làm cách nào mà người dân trên đảo có thể dựng được những bức tượng đá lên, trong khi họ không có những cây gỗ chắc chắn, không có cả thừng chão chắc khỏe.”[2]

Khi Roggeveen và thủy thủ đoàn của ông thả neo một tuần sau đó, họ có thêm nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Thậm chí cho đến hôm nay, hòn đảo nhỏ xíu ở Thái Bình Dương này vẫn là một trong những địa điểm bí ẩn nhất trên trái đất, là tâm điểm của nhiều cuộc nghiên cứu cũng như suy đoán suốt nhiều thế kỉ qua. Chẳng hạn, có nhiều người cho rằng cư dân đảo là hậu duệ của người Inca, còn các bức tượng được dựng lên bởi một tộc người khổng lồ cao hơn ba mét.[3] Thậm chí, có người còn cho rằng chúng được người ngoài hành tinh thả xuống (một ông chủ khách sạn ở Thụy Sĩ đã tìm cách bán được 7 triệu cuốn sách về giả thuyết đó).[4]

Sự thật thì không li kì như tưởng tượng nhưng cũng không kém cạnh là bao.

Ngày nay, nhờ việc nghiên cứu DNA, chúng ta biết rằng các nhà chinh phục đã tới đây từ lâu trước khi Roggeveen đặt chân lên đảo. Cư dân Polynesia, những người Viking của Thái Bình Dương, tìm thấy đảo này đầu tiên.[5] Với lòng can đảm đến gần như điên khùng, họ được cho là đã khởi hành từ quần đảo Gambier cách đó khoảng 1.600 dặm, trên những chiếc xuồng không mái chèo, bơi ngược những trận gió trong vùng. Việc có bao nhiêu cuộc viễn chinh như vậy, chúng ta sẽ không bao giờ biết được, nhưng trong câu chuyện này, chỉ cần một cuộc vượt biển thành công.

Và những bức tượng moai hoành tráng đó? Khi nhà nhân chủng học Katherine Routledge đến thực hiện điền dã trên đảo vào năm 1914, bà nhận thấy không còn một bức tượng nào đứng thẳng. Thay vào đó, chúng đổ kềnh, một số bị vỡ thành nhiều mảnh, và bị cỏ mọc trùm kín.

Làm thế nào xã hội nhỏ bé này có thể điêu khắc và di chuyển được những khối đá khổng lồ như vậy? Họ sống trên một hòn đảo thiếu cây cối và không hề tìm thấy bánh xe nào có thể sử dụng chứ đừng nói gì đến cần trục. Lẽ nào nơi này từng đông dân cư hơn? Routledge đưa ra thắc mắc của mình với những cư dân già nhất của đảo. Họ kể lại những câu chuyện đã diễn ra ở đây hàng trăm năm trước. Những câu chuyện thật rùng mình.[6]

Họ kể, từ xa xưa, có hai bộ tộc cùng chung sống trên đảo: tộc Tai dài và tộc Tai ngắn. Họ sống với nhau rất hòa thuận và đoàn kết cho tới khi xảy ra mâu thuẫn khiến hai tộc bị chia rẽ, phá hủy sự bình yên đã ngự trị hàng thế kỉ và gây ra một cuộc nội chiến đẫm máu. Tộc Tai dài di chuyển đến khu vực phía đông hòn đảo và đào hầm sâu xuống đất. Sáng hôm sau, tộc Tai ngắn tấn công nơi trú ẩn của tộc Tai dài và châm lửa đốt nơi này, thiêu sống tộc Tai dài trong chính cái bẫy họ đào. Cho đến ngày nay, chúng ta vẫn còn thấy dấu tích của đường hầm đó.

Đó mới chỉ là phần mở đầu của câu chuyện. Những ngày tháng tiếp theo, tình hình trở nên xấu đi, trở thành một cuộc chiến tranh kiểu Hobbes. Thậm chí, cư dân đảo Phục Sinh còn ăn thịt lẫn nhau. Điều gì đã châm ngòi cho toàn bộ thảm cảnh này? Routledge chỉ có thể đưa ra những dự đoán. Nhưng rõ ràng phải có nguyên nhân nào đó dẫn đến kết cục khiến cho một xã hội tự hủy diệt chính nó.

Nhiều năm sau, vào năm 1955, nhà thám hiểm người Na Uy, Thor Heyerdahl đã thực hiện một cuộc thám hiểm đến đảo Phục Sinh. Heyerdahl là một nhân vật nổi tiếng. Vài năm trước, ông cùng với năm người bạn của mình đã tự làm một chiếc bè và vượt qua vùng biển dài 4.300 dặm từ Peru tới Polynesia, sau đó bị gió đánh dạt vào đảo Raroia. Heyerdahl cho rằng chuyến đi bằng bè của ông là bằng chứng chứng minh việc người Inca đã tới được đảo Polynesia trên những chiếc bè thô sơ. Mặc dù hành động này không thuyết phục được các nhà khoa học, tuy nhiên, khi ông xuất bản câu chuyện giả thuyết này, cuốn sách đã bán được 50 triệu bản.[7]

Heyerdahl đã sử dụng toàn bộ số tiền thu được từ việc bán cuốn sách đó để thực hiện cuộc thám hiểm tới đảo Phục Sinh, ông mời một vài nhà khoa học danh tiếng tham gia cùng mình, trong số đó có William Mulloy, một người Mỹ đã dành cả phần đời còn lại để nghiên cứu về đảo Phục Sinh. “Tôi chẳng tin cái chết tiệt gì ngài đã xuất bản,” ông ấy đã nói với Heyerdahl trước khi họ lên đường.[8]

Hóa ra nhà khoa học và kẻ liều mạng lại ăn ý với nhau một cách kinh ngạc. Không lâu sau khi đến đảo Phục Sinh, hai người đã có một phát hiện ngoạn mục. Sâu trong một đầm lầy, nhóm Heyerdahl tìm thấy phấn hoa của một loài cây chưa biết đến. Họ gửi nó về Stockholm để nhờ một nhà cổ thực vật học hàng đầu phân tích. Ít lâu sau nhà cổ thực vật học đã thông báo cho họ kết luận của ông ấy: trên hòn đảo này từng có một cánh rừng rộng mênh mông.

Các mảnh ghép về hòn đảo dần được ráp lại, dù chậm chạp nhưng chắc chắn. Năm 1974, William Mulloy đã xuất bản một câu chuyện thật về đảo Phục Sinh và số phận cư dân trên đảo.[9] Cảnh báo với độc giả: Đó là một cái kết không có hậu.

02

Tất cả bắt đầu với những moai đầy bí ẩn.

Mulloy cho rằng, vì một lý do nào đó, cư dân đảo Phục Sinh không thể tìm đủ số lượng những khối đá khổng lồ. Lần lượt, từng bức tượng khổng lồ được đục đẽo và kéo vào vị trí. Các vị thủ lĩnh đầy lòng đố kị đòi hỏi những tượng moai ngày một lớn, vì thế, ngày càng cần nhiều lương thực để nuôi lực lượng lao động, và để vận chuyển được các bức tượng thì càng phải chặt hạ nhiều cây cối trên đảo.

Nhưng một hòn đảo hữu hạn thì không thể đáp ứng được nhu cầu vô hạn của con người. Rồi cũng đến ngày toàn bộ cây cối biến mất. Đất đai bị rửa trôi khiến cho năng suất cây trồng giảm đi. Không còn gỗ đóng xuồng thì không thể ra khơi đánh bắt cá. Việc xây dựng các bức tượng bị đình trệ và căng thẳng gia tăng. Một cuộc chiến tranh nổ ra giữa hai bộ lạc (tộc Tai dài và tộc Tai ngắn mà Katherine Routledge đã nghe kể) nhanh chóng leo thang thành một trận chiến lớn diễn ra vào khoảng năm 1680, kết quả là tộc Tai dài gần như bị tiêu diệt hoàn toàn.

Mulloy cho biết những cư dân còn sống tiếp tục lối sống hoang đàng nguy hại, họ đã kéo đổ hết các moai. Tệ hơn, họ bắt đầu xoa dịu cơn đói bằng việc ăn thịt nhau. Cư dân trên đảo vẫn kể lại rằng tổ tiên họ là những kẻ ăn thịt đồng loại. Từ đó, xuất hiện một câu chửi thề quen thuộc là “răng tao vẫn còn giắt thịt mẹ mày”.[10] Các nhà khảo cổ đã đào được vô số mũi tên bằng đá vỏ chai, hay mata’a – bằng chứng của đợt tàn sát diễn ra trên quy mô lớn.

Vậy là khi Jacob Roggeveen lên đảo Phục Sinh vào năm 1722, ông đã gặp một nhóm cư dân khốn khổ khoảng vài nghìn người. Thậm chí bây giờ, mỏ đá ở Rano Raraku nơi các moai được đục đẽo, cho ta ấn tượng về một công xưởng bị bỏ lại một cách vội vã đột ngột. Những chiếc đục vẫn còn nằm la liệt trên đất, với hàng trăm moai dang dở, chưa đục đẽo xong.

Cuốn sách của William Mulloy cho thấy bước đột phá trong việc vén bức màn bí ẩn của đảo Phục Sinh. Ít lâu sau, rất nhiều các nhà nghiên cứu khác đã bổ sung thêm bằng chứng chứng minh suy luận và hướng nghiên cứu của ông là đúng, chẳng hạn vào năm 1984, các nhà địa lý người Anh đã công bố phát hiện của họ về các hạt phấn hoa hóa thạch ở cả ba miệng núi nửa trên đảo, khẳng định giả thuyết rằng hòn đảo này từng được một khu rừng phủ kín.[11]

Cuối cùng, Jared Diamond, giáo sư địa lý nổi tiếng thế giới chính là người làm cho lịch sử bi thảm của đảo Phục Sinh được “lưu danh” muôn thuở.[12] Trong cuốn sách bán chạy năm 2005 với tựa đề Collapse✻, Diamond đã đúc kết những sự thật quan trọng sau:

• Đảo Phục Sinh có người Polynesia đến cư ngụ từ sớm, vào khoảng năm 900.

• Phân tích về số lượng nơi cư ngụ được khai quật đã cho thấy dân số trên đảo từng đạt đến 15.000 người.

• Tượng moai không ngừng tăng về kích thước, do đó nhu cầu về nhân lực, lương thực và gỗ cũng tăng theo.

• Các bức tượng được vận chuyển theo chiều ngang trên các thân gỗ, huy động một lượng lớn nhân công, sử dụng rất nhiều cây cối và cần một thủ lĩnh mạnh mẽ để giám sát các hoạt động.

• Cuối cùng không còn cây cối nữa, đất đai bị rửa trôi, nông nghiệp đình đốn và nạn đói xảy ra.

• Khoảng năm 1680 một cuộc nội chiến nổ ra.

• Khi Jacob Roggeveen đến đảo năm 1722, chỉ còn vài nghìn cư dân sống sót. Rất nhiều tượng moai đã bị giật đổ và cư dân đảo ăn thịt lẫn nhau.

Vậy câu chuyện trên có ý nghĩa gì?

Đó là lời cảnh báo về giá trị đạo đức của chính chúng ta. Sau khi đọc xong câu chuyện về đảo Phục Sinh, chúng ta thấy được hình ảnh của trái đất trong đó. Nếu coi đảo Phục Sinh là một đốm nhỏ trên đại dương mênh mông, thì trái đất cũng là một đốm nhỏ trong vũ trụ bao la. Cư dân đảo không có thuyền để thoát khỏi đó; chúng ta không có tàu vũ trụ để bay khỏi trái đất. Đảo Phục Sinh bị mất đi những cánh rừng và dân cư quá đông; hành tinh của chúng ta thì ngày càng ô nhiễm và đang nóng dần lên.

Điều này có vẻ hoàn toàn trái ngược với những lập luận của tôi trong các chương trước. “Sự tham lam của con người là vô hạn. Sự ích kỉ của họ có vẻ là bẩm sinh di truyền,” đó là điều mà hai nhà khảo cổ Paul Bahn và John Flenley đã viết trong cuốn sách Easter Island, Earth Island (tạm dịch: Đảo Phục Sinh, Đảo Trái đất).[13]

Khi bạn mừng thầm rằng mình đã bác bỏ được lý thuyết vỏ ngoài của Hobbes, thì đúng lúc đó nghi ngờ lại tăng gấp đôi và quay lại giống như một chiếc boomerang.

Dường như câu chuyện đảo Phục Sinh lại một lần nữa xác nhận quan điểm yếm thế về nhân loại. Khi hành tinh của chúng ta tiếp tục ấm lên, chúng ta tiếp tục tiêu tốn năng lượng và gây ô nhiễm, đảo Phục Sinh như một hình ảnh ẩn dụ hoàn hảo về tương lai của trái đất. Hãy quên giống loài Homo puppy và sự dã man cao quý. Giống loài chúng ta giống như một loại virus hoặc dịch châu chấu. Một thứ dịch bệnh lan tràn cho tới khi mọi thứ trở nên cằn cỗi và sụp đổ – cho tới khi quá muộn.

Vì thế đây là bài học của đảo Phục Sinh. Lịch sử của hòn đảo đã được kể đi kể lại trong các phim tài liệu hoặc những cuốn tiểu thuyết, trong các từ điển bách khoa hoặc các bài báo cáo, trong các bài viết học thuật hoặc các cuốn sách khoa học nổi tiếng. Chính tôi cũng đã viết về nó. Suốt một thời gian dài, tôi tin bí mật của đảo Phục Sinh đã được William Mulloy, Jared Diamond và nhiều nhà khoa học khác tìm thấy câu trả lời. Vì nếu nhiều chuyên gia hàng đầu như vậy đưa ra những kết luận ảm đạm, giống hệt nhau, thì còn lại gì để tranh cãi nữa?

Sau đó, tôi đã đọc được tác phẩm của Jan Boersema.

03

Khi tôi đến văn phòng của ông ấy tại Đại học Leiden, tôi đã nghe thấy bản cantata của Bach. Khi tôi gõ cửa, một người đàn ông mặc chiếc áo hoa hòe hoa sói xuất hiện giữa những chồng sách.

Tuy Boersema là một nhà sinh vật học môi trường, nhưng các giá sách của ông chật ních những cuốn sách về lịch sử, triết học và công việc của ông liên quan đến cả lĩnh vực nghệ thuật và khoa học. Năm 2002, cách tiếp cận này dẫn ông tới một phát hiện tuy đơn giản nhưng sâu sắc trái ngược với tất cả những gì chúng ta biết về đảo Phục Sinh, ông nhận ra điều gì đó mà nhiều nhà nghiên cứu và nhà văn khác đã không thấy – hoặc có thể họ không muốn thấy.

Khi đó, Boersema đang chuẩn bị cho bài giảng đầu tiên của mình với tư cách một giáo sư, ông cần một chút bối cảnh về sự suy tàn của đảo Phục Sinh. Vì không biết cuốn nhật kí của Roggeveen có còn tồn tại không, ông đã đến thư viện để kiểm tra. Nửa tiếng sau, ông đã tìm được cuốn Journal of the Voyage of Discovery of Mr. Jacob Roggeveen (tạm dịch: Nhật kí hải trình về những phát hiện của Ngài Jacob Roggeveen), sau đó ông bắt đầu đọc nó.

“Mới đầu, tôi không tin vào những điều mà tôi đang đọc”. Boersema cho rằng sẽ tìm thấy những chi tiết kinh khủng chẳng hạn như việc tàn sát và ăn thịt đồng loại, nhưng hóa ra điều mà ông đang đọc lại là một nhật kí vui vẻ. “Chẳng hề cho thấy dấu hiệu gì về một xã hội suy tàn.”

Jacob Roggeveen mô tả cư dân đảo Phục Sinh thân thiện, khỏe mạnh, với cơ bắp cuồn cuộn và hàm răng trắng sáng. Họ không xin xỏ thực phẩm, ngược lại họ còn chu cấp thêm cho thủy thủ đoàn Hà Lan. Roggeveen nhận thấy đất đai trên đảo “đặc biệt màu mỡ”, không có chi tiết nào nhắc đến những bức tượng bị kéo đổ thì nói gì đến những vũ khí và tình trạng ăn thịt đồng loại. Thay vào đó, ông mô tả hòn đảo như một “thiên đường trên mặt đất”.

“Cho nên khi ấy tôi đã thắc mắc, không biết chuyện gì đang diễn ra ở đây?” Boersema cười.

Jan Boersema là một trong những nhà khoa học đầu tiên thể hiện sự nghi ngờ trước câu chuyện được chấp nhận rộng rãi về sự suy tàn của đảo Phục Sinh. Khi tôi đọc bài giảng năm 2002 của Boersema, trong tôi hiện lên suy nghĩ rằng lịch sử đảo Phục Sinh giống như một câu chuyện bí mật thú vị: một truyện trinh thám khoa học. Vì vậy, cũng như Boersema, chúng ta hãy từ từ tìm hiểu bí mật này. Chúng ta sẽ xác minh những bài viết của nhân chứng, xem xét từng chứng cứ ngoại phạm của cư dân trên đảo, xác định dòng thời gian chính xác nhất và nghiên cứu kĩ các vũ khí giết người. Chúng ta sẽ phải huy động nhiều ngành tham gia vào cuộc điều tra của mình, từ lịch sử tới địa lý, từ nhân chủng học tới khảo cổ học.[14]

Hãy bắt đầu bằng việc quay trở lại chi tiết: đường hào nơi tộc Tai dài ẩn náu và bị tiêu diệt vào năm 1680. Chúng ta lấy câu chuyện man rợ này từ nguồn nào?

Tài liệu đầu tiên chúng ta có là những kí ức người dân đảo Phục Sinh chia sẻ với Katherine Routledge vào năm 1914. Giờ đây, mọi điều tra viên đều biết rằng trí nhớ con người có thể sai, và chúng ta đang phải xử lý những kí ức được truyền khẩu qua nhiều thế hệ. Hãy hình dung chúng ta phải giải thích những việc tổ tiên mình đã làm cách đây hai hoặc ba trăm năm. Sau đó tưởng tượng chúng ta không hề có sách lịch sử và chỉ có thể dựa vào kí ức về những câu chuyện mà người dân trên đảo nhớ được.

Kết luận là gì ư? Có lẽ những ghi chép của Routledge không phải là nguồn đáng tin nhất.

Tuy nhiên, những lời đồn không phải là bằng chứng duy nhất về vụ tàn sát. Một thành viên trong đoàn thám hiểm của Thor Heyerdahl, nhà khảo cổ Carlyle Smith, bắt đầu khai quật quanh đường hào được cho là địa điểm của vụ tàn sát người Tai dài. Ông lấy hai mẫu than củi và gửi đi xác định niên đại. Một mâu được thu hẹp về năm 1676. Vối Smith, việc này không còn gì phải nói nữa. Vì niên đại tương ứng với thời gian truyền khẩu nhắc đến vụ tàn sát và thiêu tộc Tai dài nên ông tin rằng câu chuyện đã được xác minh.[15]

Mặc dù sau này Smith đã đưa ra một số cảnh báo khi sử dụng cách diễn giải này, và mặc dù những phân tích đã xác định lại niên đại của mẫu than là trong khoảng 1460-1817, và dù không thể tìm thấy bất kì bộ hài cốt nào ở vị trí đó, cùng với việc các nhà địa lý xác định rằng đường hào không phải do con người đào mà là có sẵn trong tự nhiên, nhưng câu chuyện hoang đường về vụ tàn sát năm 1680 vẫn tiếp tục tồn tại.[16] Nó vẫn được Heyerdahl, Mulloy và Diamond nhắc đến.

Còn lý lẽ về việc xảy ra chiến tranh giữa các bộ lạc càng trở nên yếu ớt hơn khi được xem xét dưới ánh sáng của bằng chứng pháp y. Giả thuyết là người dân đảo ăn thịt lẫn nhau vì họ bị đói. Nhưng phân tích khảo cổ gần đây đối với các bộ xương của hàng trăm cư dân đã xác định rằng, thực tế, những quan sát của Roggeveen đều đúng: những người sống trên đảo Phục Sinh ở đầu thế kỉ 18 rất khỏe mạnh và vạm vỡ.[17] Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy họ bị đói cả.

Vậy những manh mối cho thấy tình trạng bạo lực tràn lan thì sao?

Một nhóm các nhà nhân chủng học ở Viện Smithsonian gần đây đã kiểm tra 469 hộp sọ từ đảo Phục Sinh và không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy có chiến tranh quy mô lớn giữa những người bản xứ. Thực tế, chỉ có hai hộp sọ có dấu vết tổn thương, nhưng có thể là do họ sử dụng một trong những mata’a (mũi tên đá vỏ chai) khét tiếng, ít nhất giả thuyết là như vậy.[18]

Nhưng giới khoa học không còn tin mata’a là vũ khí. Nhiều khả năng chúng giống như những con dao đẽo gọt thông dụng – giống mảnh đá vỏ chai mà một trong những thuyền trưởng của Roggeveen quan sát một người bản xứ sử dụng để lột vỏ chuối. Năm 2016, sau khi kiểm tra 400 chiếc mata’a, một nhóm nghiên cứu người Mỹ kết luận, nếu chúng đúng là vũ khí thì đó đều là những vũ khí vô dụng: bởi chúng đều quá cùn.[19]

Đấy là chưa nói đến việc cư dân đảo Phục Sinh không hề biết cách chế tạo những vũ khí giết người. Nhưng, như trưởng nhóm nghiên cứu nhận xét: “Họ lựa chọn không làm vậy.”[20]

Vậy nếu họ không giết hại lẫn nhau thì điều gì đã xảy ra với hàng nghìn người từng sống trên đảo? Tất cả bọn họ đã đi đâu? Roggeveen kể với chúng ta chỉ có vài nghìn người sống trên đảo khi ông tới đây, trong khi có thời điểm, theo Jared Diamond, có tới 15.000 người. Thế thì chúng cứ ngoại phạm của họ là gì?

Hãy bắt đầu bằng việc xem xét phương pháp Diamond đã dùng để cho ra được con số này. Trước hết ông phán đoán xem đã từng có bao nhiêu ngôi nhà trên đảo, dựa trên những hài cốt khảo cổ học. Tiếp theo ông ước lượng số người sống trong một căn nhà. Và để hoàn tất tính toán của mình, ông đã làm tròn. Nghe không giống một công thức khoa học lắm.

Chúng ta có thể ước tính dân số chính xác hơn nếu chúng ta xác định khung thời gian mà thảm kịch xảy ra. Ban đầu, có người cho rằng đảo Phục Sinh được con người đến cư trú vào khoảng năm 900, thậm chí là từ năm 300. Nhưng gần đây hơn, công nghệ tiên tiến đã xác định niên đại này muộn hơn nhiều, vào khoảng năm 1100.[21]

Sử dụng niên đại muộn hơn này, Jan Boersema đã làm một phép tính đơn giản, cứ cho rằng khoảng 100 cư dân Polynesian vượt biển đặt chân lên đảo Phục Sinh vào năm 1100. Và cho rằng dân số tăng 0,5%/năm (số tối đa đạt được bởi những xã hội tiền công nghiệp). Điều này có nghĩa là có thể có tới 2.200 cư dân vào thời điểm Roggeveen đến. Con số này hoàn toàn ăn khớp với những ước tính được các nhà hàng hải châu Âu dừng chân trên đảo vào thế kỉ 18 ghi lại.

Điều đó có nghĩa là hàng nghìn cư dân đảo Phục Sinh bị cho là đã tra tấn, giết hại và ăn thịt lẫn nhau đã có chứng cứ ngoại phạm tuyệt vời.

Họ chưa bao giờ tồn tại cả.

Câu đố cần được trả lời tiếp theo đó là điều gì đã xảy ra với các khu rừng trên đảo Phục Sinh. Nếu Jared Diamond, William Mulloy và rất nhiều nhà khoa học khác đáng tin cậy thì toàn bộ cây cối đã bị chặt hạ bởi những cư dân tham lam muốn dựng càng nhiều tượng moai càng tốt. Thậm chí, một sử gia người Canada còn đi xa tới mức cho rằng cư dân trên đảo mắc “chứng cuồng” và “bệnh học ý thức hệ”.[22]

Tuy nhiên nếu bạn chịu khó tính toán một chút, bạn sẽ nhận ra rằng kết luận này có phần hơi hấp tấp. Boersema cho rằng cần khoảng 11 cái cây để lăn một bức tượng đá vào vị trí, như vậy, để di chuyển 1.000 tượng thì cần tối đa 15.000 cây. Vậy có bao nhiêu cây trên đảo? Theo nghiên cứu sinh thái học thì có đến hàng triệu – thậm chí tới 16 triệu cây![23]

Thậm chí, phần lớn các bức tượng này còn chưa hề rời Rano Raraku, mỏ đá nơi chúng được đẽo gọt. Nhưng thay vì cho rằng chúng bị “bỏ mặc” khi đảo đột nhiên rơi vào nội chiến, giờ đây các nhà khoa học cho rằng chúng được bỏ lại đó một cách có chủ ý để làm “những người canh gác” mỏ đá.[24]

Rốt cuộc, 493 bức tượng đã được lăn tới chỗ khác, con số đó nghe có vẻ rất nhiều, nhưng chớ quên rằng suốt hàng trăm năm, đảo Phục Sinh chỉ có cư dân đảo, không người lạ nào. Như vậy, họ chỉ di chuyển nhiều nhất một hoặc hai bức tượng mỗi năm. Tại sao họ không dừng lại với một tá tròn? Boersema ngờ rằng lời giải thích đơn giản là do sự buồn tẻ: “Sống trên một hòn đảo như thế, về cơ bản bạn có rất nhiều thời gian rảnh. Những việc như đục đẽo, vận chuyển như vậy giúp tiêu tốn thời gian trong ngày.”[25]

Tôi nghĩ việc tạo ra moai thật sự được xem là một sự kiện lao động tập thể, giống như việc xây dựng quần thể đền thờ ở Göbekli Tepe diễn ra vào hơn 10.000 năm trước (xem Chương 5). Hoặc gần đầy hơn trên đảo Nias, phía tây Sumatra, nơi vào đầu thế kỉ 20, người ta nhìn thấy có tới 525 người đàn ông kéo một bức tượng đá lớn trên xe trượt tuyết bằng gỗ.[26]

Không nghi ngờ gì nữa, mặc dù những công việc nặng nhọc như vậy có thể được làm theo cách hiệu quả hơn, nhưng đó không phải là mấu chốt. Đây không phải là những dự án lớn mà một kẻ trị vì hoang tưởng tự đại nào đó thèm muốn. Đó là nghỉ thức để cả một cộng đồng tập hợp và kết nối với nhau.

Xin đừng hiểu nhầm: cư dân đảo Phục Sinh đã chặt hạ một lượng lớn cây cối. Không chỉ để di chuyển moai, mà còn để thu hoạch chất nhựa của cây, đóng thuyền và lấy đất trồng trọt. Cho dù vậy, khi phải giải thích về sự biến mất của toàn bộ rừng, có một thủ phạm chắc chắn hơn, tên nó Rattus exulans – loài chuột Polynesia.

Loài gặm nhấm này có lẽ những kẻ đầu tiên đi lậu vé trên những chiếc thuyền để đến được đây, và với việc không có những kẻ săn mồi tự nhiên trên đảo Phục Sinh, chúng được tự do sinh trưởng. Trong phòng thí nghiệm, cứ 47 ngày chuột lại tăng gấp đôi. Điều đó có nghĩa là chỉ trong 3 năm, một cặp chuột có thể tạo ra 17 triệu con cháu.

Đây là thảm họa sinh thái thật sự trên đảo Phục Sinh. Các nhà sinh vật nghi ngờ những con chuột sinh sôi rất nhanh này đã ăn sạch hạt của cây cối, làm chậm sự phát triển của những khu rừng.[27]

Với cư dân đảo Phục Sinh, mất rừng không phải chuyện lớn, bởi vì cứ mỗi cái cây đổ xuống lại có thêm đất trồng trọt. Trong một bài viết được xuất bản vào năm 2013, nhà khảo cổ Mara Mulrooney chứng minh rằng sản xuất lương thực thực tế đã tăng sau khi cây cối biến mất, nhờ vào việc áp dụng các kĩ thuật canh tác điêu luyện như xếp các lớp đá thấp để bảo vệ cây trồng trước những cơn gió biển đồng thời giữ nhiệt và độ ẩm.[28]

Thậm chí, các nhà khảo cổ học cho rằng nếu dân số đạt tới 15.000 người thì vẫn còn thừa lượng thực. Mulrooney còn đi xa tới mức gợi ý rằng đảo Phục Sinh có lẽ “cho thấy sự khéo léo của con người có thể đem đến thành công thay vì thất bại”.[29]

04

Nhưng thành công đó lại khá ngắn ngủi.

Đại họa cuối cùng hủy diệt đảo Phục Sinh không phải do những yếu tố trên đảo gây ra, mà đến từ những con tàu châu Âu. Sự kiện bi thảm này bắt đầu vào ngày 7 tháng 4 năm 1722, khi Jacob Roggeveen và thủy thủ đoàn của ông chuẩn bị lên bờ. Một người đàn ông cởi trần chèo một chiếc thuyền đến. Ông ấy tầm ngoài 50, vóc người rắn rỏi, nước da đen, trên người toàn hình xăm cộng thêm một chòm râu dê.

Khi đã lên boong tàu, ông tạo ấn tượng sôi nổi và hoạt bát. Ông tỏ ra kinh ngạc trước “chiều cao vĩ đại của những cột buồm, độ dài của thừng chão, những lá buồm, súng thần công, ông ấy sờ vào những thứ đó và nhiều vật dụng trên tàu với vẻ rất thận trọng”.[30] Ông hoảng hốt khi nhìn thấy chính mình đang phản chiếu trong một tấm gương, sợ hãi khi chuông trên tàu vang lên và khi được mời một ly rượu brandy, ông lại đổ vào mắt mình.

Điều gây ấn tượng với Roggeveen nhất là tinh thần phấn chấn, vui vẻ của người dân trên đảo. Ông nhảy múa, ông ca hát, ông cười và lặp đi lặp lại những từ “O dorroga! O dorroga!”. Mãi cho đến sau này các học giả mới đoán được có lẽ những từ đó có nghĩa là “Hoan nghênh”.

Nhưng đó sẽ là một sự chào đón cay đắng. Roggeveen thả neo với 134 người trên ba chiếc tàu và hai thuyền nhỏ. Trong khi dân đảo Phục Sinh thể hiện lòng mến khách chào đón những người mới đến thì những người Hà Lan sắp thành hàng ngũ chiến đấu. Và sau đó, không hề cảnh báo, bốn hay năm tiếng súng vang lên. Chỉ huy ra lệnh: “Nào, nào, khai hỏa!” Thêm ba mươi tiếng súng nữa. Cư dân trên đảo bỏ chạy vào sâu trong đảo, để lại khoảng mười xác chết trên bãi biển. Trong số đó có người đàn ông thân thiện đã chào đón hạm đội với tiếng “O’dorrogal”. Roggeveen rất giận những kẻ đã ra lệnh nổ súng, họ đổ lỗi là do hiểu nhầm, nhưng nhật kí của ông không hề đề cập đến hình phạt. Khi đêm xuống, Roggeveen kiên quyết rời đi với hi vọng tiếp tục nhiệm vụ tìm thấy Vùng đất phương Nam.

Bốn mươi tám năm sau, một hạm đội khác đặt chân lên đảo Phục Sinh. Đoàn viễn chinh do thuyền trưởng Don Felipe Gonzalez dẫn đầu, họ dựng ba cây thập giá bằng gỗ, trương cờ Tây Ban Nha và tuyên bố đảo thuộc về Đức Mẹ Maria Đồng trinh. Nhưng cư dân đảo Phục Sinh dường như chẳng hề quan tâm đến điều đó.

Đây là bức tranh của họa sĩ Gaspard Duché de Vancy, người tới thăm đảo Phục Sinh ngày 9 tháng 4 năm 1786. Có lẽ, hình ảnh này nói về người Pháp và quan điểm thực dân của ông ấy nhiều hơn là về những cư dân đảo Phục Sinh. Việc nó vẫn còn tồn tại là một phép màu, vì de Vancy là thành viên một đoàn thám hiểm bất hạnh do nhà thám hiểm Jean-Francois de Galaup, Comte de La Pérouse dẫn đầu. Năm 1787 người Pháp đến bán đảo Kamchatka ở Đông Bắc Nga. Để an toàn, La Pérouse quyết định gửi về quê nhà một báo cáo trước về chuyến hải trình của mình (gồm cả hình minh họa này). Một năm sau, đoàn thám hiểm của ông bị đắm tàu. Chuyện gì đã xảy ra với La Pérouse, họa sĩ De Vancy của đoán, và những thành viên trong thủy thủ đoàn là một bí ẩn mà các học giá vẫn đang tìm cách làm sáng tỏ. Nguồn: Cục lưu trữ Hulton.

“Chẳng có dấu hiệu hận thù nào,” những kẻ đi chinh phạt ghi nhận.[31] Khi những người Tây Ban Nha tặng cư dân một cây cung và mũi tên mới, những cư dân yêu chuộng hòa bình bối rối không biết làm gì với món quà. Cuối cùng, họ chọn cách đeo nó như một chiếc vòng cổ.

Bốn năm sau, tức là năm 1774, một đoàn viễn chinh người Anh dưới sự chỉ huy của James Cook tìm đến. Chính Thuyền trưởng Cook, sau ba hải trình huyền thoại vượt Thái Bình Dương, cuối cùng cũng chứng minh rằng Vùng đất phương Nam là một câu chuyện hoang đường. Ông gia nhập vào hàng ngũ những nhà thám hiểm vĩ đại nhất trong lịch sử, còn tên tuổi Roggeveen thì bị lãng quên từ lâu.

Địa vị được trọng vọng của Cook có thể giải thích lý do các nhà tiên tri rất tin tưởng vào những quan sát của ông về đảo Phục Sinh. Cook là người đầu tiên báo cáo về những tượng moai bị kéo đổ và – có lẽ quan trọng hơn – mô tả những cư dân là “nhỏ bé, gầy gò, nhút nhát và khốn khổ”.

Nói một cách chính xác hơn đó là những gì người ta vẫn trích dẫn khi nói đến báo cáo của Cook. Thật kì lạ, khi một nhà nghiên cứu tại Đại học Toronto đọc lại nhật kí của Cook, ông đã không hề tìm thấy bất kì đoạn mô tả nào như vậy.[32] Thay vào đó, nhà nghiên cứu thấy Cook đã ghi lại rằng các cư dân “lanh lợi, hoạt bát, vẻ ngoài rất đẹp và không tỏ nét mặt khó chịu nào; với những người lạ, họ tỏ ra khá thân thiện và hiếu khách”.[33]

Vậy Cook đã đưa ra đánh giá gay gắt đó ở đâu? Chúng ta cần tìm ở nguồn tài liệu nào để thấy những trích dẫn của Cook khớp với câu chuyện về sự sụp đổ của đảo Phục Sinh, thậm chí những đánh giá gay gắt đó còn được đưa lên tạp chí khoa học Nature đầy uy tín?[34] Jared Diamond lựa chọn nguồn trích dẫn từ Paul Bahn và John Flenley (hai tác giả của cuốn sách Easter Island, Earth Island), nhưng hóa ra hai tác giả này lại chẳng trích dẫn từ ai cả. Tôi quyết định thử tự mình truy vết lại lời trích dẫn bí ẩn đó. Sau một ngày dài trong thư viện, tôi đã tìm thấy nó, trong một cuốn sách khô khan do một giáo sư lý thuyết suông viết vào năm 1961.[35]

Chủ đề của cuốn sách là gì ư? Cuộc thám hiểm của người Na Uy đến đảo Phục Sinh. Tác giả là ai? Thor Heyerdahl.

Đúng vậy: nguồn trích dẫn sai lệch của Cook không từ ai khác, mà chính là từ nhà thám hiểm Na Uy đồng thời là nhà quán quân của một số ý tưởng khá liều lĩnh. Đây cũng chính là người vừa xuất bản một cuốn sách khá thịnh hành trong đó ông ấy tưởng tượng rằng hòn đảo ban đầu có những người Inca tai dài sinh sống trước khi bị những người Polynesian tai ngắn ăn thịt đồng loại xâm lược. Cũng chính Thor Heyerdahl là người viết lại những nhận xét về cư dân đảo “vô hại và thân thiện” của Cook thành một cộng đồng dân cư “nguyên thủy chuyên ăn thịt đồng loại.”[36]

Những câu chuyện hoang đường ra đời như vậy.

Trong khi đó, vẫn còn một bí ẩn cần giải đáp: Tại sao cư dân đảo Phục Sinh lại tự mình phá hủy những bức tượng hoành tráng mà họ đã tạo ra?

Để có câu trả lời, chúng ta hãy trở lại cuốn nhật kí của Jacob Roggeveen. Trước khi ông ấy đến, suốt hàng trăm năm, cư dân của hòn đảo cho rằng họ hoàn toàn cô độc trên thế giới này. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà tất cả tượng moai ngoảnh vào phía trong, hướng về hòn đảo thay vì hướng ra ngoài về phía biển.

Thế rồi, sau chừng ấy thời gian, ba con tàu lừng lững xuất hiện ở đường chân trời. Cư dân đảo đã nghĩ gì về những người Hà Lan xa lạ, với những con tàu phi thường và hỏa lực đáng sợ của họ? Họ là những nhà tiên tri chăng? Hay các vị thần? Sự xuất hiện của họ và cuộc thảm sát trên bãi biển hẳn là một cú sốc nặng nề. “Thậm chí cháu chắt của họ cũng có lúc kể lại câu chuyện đầy bi thương đó,” một thủy thủ người Hà Lan đã nói.[37]

Những thủy thủ Tây Ban Nha là những người tiếp theo trống dong cờ mở đặt chân đến hòn đảo này. Họ trình diễn một đám rước nghi lễ có trống và phất cờ rồi kết thúc màn phô trương với ba loạt đại bác rền vang.

Liệu có phải là suy diễn khi cho rằng, những sự kiện này đã gây ra tác động rất lớn đến cư dân đảo và cách họ nhìn nhận thế giới? Trong khi Roggeveen miêu tả cảnh họ quỳ gối trước tượng moai, thì Cook nói các bức tượng “không còn được cư dân hiện tại xem như những tượng thần, bất kể chúng có ý nghĩa gì vào thời kì của những người Hà Lan đi nữa”. Hơn nữa, ông còn ghi thêm rằng cư dân đảo “chẳng buồn sửa sang phần chân của những bức tượng sắp hỏng”.[38]

Đến năm 1804, theo miêu tả của một thủy thủ người Nga, thì chỉ còn một ít tượng moai vẫn đang đứng thẳng, số còn lại có lẽ bị đổ, hoặc bị chủ ý quật ngã, hoặc có thể do cả hai.[39] Dù là gì đi chăng nữa thì những truyền thống xung quanh tượng moai cũng đã mai một và chúng ta sẽ không bao giờ biết chính xác tại sao lại như vậy. Hai giả thuyết được đưa ra, một trong hai hoặc cả hai đều có thể đúng. Giả thuyết thứ nhất là cư dân đảo tìm được trò tiêu khiển mới. Sau khi những cánh rừng mất đi, việc di chuyển những khối đá lớn gặp nhiều khó khăn cho nên người dân nghĩ ra những trò mới để sống cho qua ngày đoạn tháng.[40]

Một giả thuyết nữa được đưa ra liên quan đến những gì mà các học giả gọi là “sùng bái hàng hóa”, nghĩa là, một sự ám ảnh với người phương Tây và đồ vật của họ.[41] Vì một lí do nào đó, cư dân đảo Phục Sinh đã cảm thấy mê mẩn những chiếc mũ của người phương Tây. Một đoàn thám hiểm của Pháp đã mất toàn bộ mũ đội đầu chỉ trong vòng một ngày sau khi họ đến hòn đảo này, điều này khiến cư dân trên đảo cảm thấy rất vui.

Cũng khoảng thời gian này cư dân đảo đã dựng một ngôi nhà có hình dáng giống với chiếc tàu của người châu Âu, xây những gò đá giống các con thuyền và thực hiện những nghĩ thức bắt chước các thủy thủ châu Âu. Các học giả tin đó có thể là sự cố gắng nhằm lôi kéo những người nước ngoài quay trở lại hòn đảo cùng với những món quà lạ lẫm và thú vị của họ.

Và đúng là họ đã trở lại, nhưng lần này họ không mang theo hàng hóa để giao thương. Lần này, chính cư dân đảo sẽ trở thành món hàng.

05

Con tàu nô lệ đầu tiên xuất hiện ở đường chân trời vào một ngày u ám năm 1862.

Đảo Phục Sinh là con mồi lý tưởng cho những kẻ buôn bán nô lệ người Peru: hòn đảo nằm biệt lập, cư dân trên đảo khỏe mạnh và thật thà, lại chưa bị bất kì cường quốc nào trên thế giới tuyên bố chủ quyền. Một sử gia tổng kết: “Tóm lại, chẳng ai biết hay bận tâm nhiều về những gì xảy ra với người dân và chi phí di chuyển họ sẽ rất nhỏ”.[42]

Theo như tổng kết, 16 con tàu đã rời đi với tất cả 1.407 người – chiếm một phần ba cư dân đảo lúc bấy giờ. Một số bị lừa với những lời hứa giả tạo, số khác bị bắt phải đi. Hóa ra thủ phạm chính là những kẻ buôn nô lệ đã bắt cóc cư dân đảo Ata (hòn đảo nơi Chúa Ruồi phiên bản đời thực sẽ xuất hiện một trăm năm sau). Khi đã đến Peru, những cư dân đảo bị bắt làm nô lệ bắt đầu rụng như ruồi. Những người nếu không làm việc đến chết trong các hầm mỏ, thì cũng không thể chống chọi được với các bệnh lây nhiễm.

Năm 1863, trước những áp lực của cộng đồng quốc tế, chính phủ Peru buộc phải đồng ý đưa những cư dân đảo Phục Sinh còn sống trở về quê hương. Trong quá trình chuẩn bị trở về, những cư dân đảo được tập hợp tại thành phố cảng Callao của Peru. Họ không có nhiều thực phẩm và tệ hơn nữa, một con tàu săn cá voi của Mỹ đang thả neo tại cảng có một thủy thủ đoàn bị nhiễm bệnh đậu mùa.

Virus lây lan nhanh chóng. Sau đó, suốt hải trình dài trở về đảo Phục Sinh, người ta phải ném các xác chết qua boong tàu. Cuối cùng chỉ còn 15 trong số 470 nô lệ được trả tự do còn sống về đến quê nhà.

Có lẽ sẽ tốt hơn cho hòn đảo nếu tất cả mọi người trên con thuyền đó đều chết trước khi trở về hòn đảo. Vì ngay khi họ trở về, virus đậu mùa nhanh chóng lây lan khắp hòn đảo, reo rắc chết chóc và hủy diệt. Số phận của đảo Phục Sinh đã được an bài. Giờ đây những người châu Âu đặt chân lên đảo thật sự chứng kiến cảnh cư dân đảo quay lưng lại với nhau. Có hàng đống xương và đầu lâu, một thuyền trưởng người Pháp viết, và những người nhiễm bệnh bị xua đuổi trở nên cùng quẫn tới mức hàng chục người đã gieo mình khỏi vách đá tự tử.

Cuối cùng khi dịch bệnh lắng xuống năm 1877, chỉ còn lại 110 cư dân – bằng con số những người đầu tiên chèo thuyền tới bờ biển này 800 năm trước. Truyền thống mai một, các nghi lễ bị lãng quên, nền văn hóa tiêu tan. Cuối cùng chính những kẻ buôn nô lệ và dịch bệnh đã hoàn thành những gì cư dân trên đảo và loài chuột không làm được. Bọn họ hủy diệt đảo Phục Sinh.

Vậy sự thật về câu chuyện trên đảo Phục sinh là gì? Câu chuyện về những cư dân đảo xem mình là trung tâm đã đẩy nền văn minh của chính mình đến diệt vong? Không nhiều thông tin cho biết điều này. Không hề có chiến tranh, không hề có nạn đói, không hề có chuyện ăn thịt đồng loại. Nạn phá rừng không làm cho hòn đảo kém mến khách, ngược lại còn giúp hoạt động sản xuất trở nên năng suất hơn. Không hề có cuộc tàn sát tràn lan vào khoảng năm 1680; sự suy tàn thật sự không xảy ra cho tới những thế kỉ sau này, khoảng năm I860. Và các vị khách nước ngoài tới đảo không hề nhận thấy bất kì dấu hiệu nào cho thấy nền văn minh trên đảo đang suy tàn – chính những vị khách này mới là kẻ hủy hoại nó.

Đấy là chưa nói cư dân không hề gây hại gì cho những vị khách, những người đã đắc tội với cư dân đảo, như vô tình đưa tới một dịch bệnh chuột quét sạch các loài động và thực vật bản địa. Sau khởi đầu chông chênh này, điều nổi bật nhất là khả năng phục hồi và thích nghi của cư dân trên đảo. Hóa ra họ khôn ngoan hơn rất nhiều so với những gì mà thế giới đem đến cho họ.

Vậy phải chăng đảo Phục Sinh vẫn là một ẩn dụ hoàn hảo cho tương lai của chúng ta? Vài ngày sau cuộc trò chuyện giữa tôi với Giáo sư Boersema, tôi đã thấy một tiêu đề báo: “BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐE DỌA CÁC BỨC TƯỢNG TRÊN ĐẢO PHỤC SINH”. Các nhà khoa học đã phân tích ảnh hưởng của mực nước biển dâng lên và tình trạng xói mòn bờ biển, và đây là kịch bản mà họ dự đoán.[43]

Tôi không chút hoài nghi khi nói đến biến đổi khí hậu. Trong tư duy của tôi thì đây rõ ràng là thách thức lớn nhất trong thời đại chúng ta – và thời đại đó đang dần hết. Tuy nhiên, điều tôi hoài nghi là sự khoa trương dựa theo thuyết định mệnh về sự sụp đổ, về quan niệm cho rằng loài người chúng ta vốn ích kỉ, hay tệ hơn là một loại virus trên trái đất. Tôi hoài nghi khi quan niệm này được cho là “hiện thực”, và tôi hoài nghi khi chúng ta nói rằng không có cách nào thoát khỏi nó.

Quá nhiều nhà hoạt động môi trường đánh giá thấp khả năng phục hồi của trái đất. Điều tôi sợ hãi là sự yếm thế của họ có thể trở thành một lời tiên tri tự hoàn thành – một hiệu ứng phản dược làm tê liệt chúng ta bằng nỗi tuyệt vọng, trong khi nhiệt độ vẫn tăng lên không hề giảm xuống. Phong trào về môi trường và khí hậu cũng có thể áp dụng một chủ nghĩa hiện thực mới.

Giáo sư Boersema nói với tôi: “Mọi người không nhận ra rằng không chỉ các vấn đề mà cả các giải pháp cũng có thể tăng lên theo cấp số nhân. Chẳng có gì bảo đảm sẽ như vậy, nhưng chúng có thể.”

Để chứng minh cho điều đó, chúng ta chỉ cần nhìn vào đảo Phục Sinh. Khi cái cây cuối cùng biến mất, cư dân trên đảo đã tái phát triển nông nghiệp bằng cách áp dụng những kĩ thuật mới để gia tăng sản lượng. Câu chuyện thật sự của đảo Phục Sinh là câu chuyện của một dân tộc kiên cường và tháo vát, kiên trì đối mặt với những khó khăn gian khổ. Nó không phải là câu chuyện về ngày tận thế đang lơ lửng, mà là suối nguồn của hi vọng.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.