Vào Trong Dòng Nước - Phần 3

PHẦN BA

THỨ HAI, 24 THÁNG TÁM **

* * *

*Mark*

Khi anh ta về đến nhà thì đã muộn lắm rồi, đã quá hai giờ sáng một lúc. Chuyến bay từ Malaga của anh ta bị chậm giờ, sau đó anh ta lại bị mất vé xe ô tô và phải mất tới bốn mươi lăm phút phát điện cả lên mới tìm thấy xe.

Giờ anh ta chỉ ước gì đã mất nhiều thời gian hơn thế, anh ta chỉ ước mình đã không tìm nổi xe, buộc phải thuê khách sạn mà ở lại. Nếu vậy, anh ta đã có thể câu kéo thêm được một đêm nữa. Bởi vì khi nhận ra, trong bóng tối, rằng mọi cửa sổ nhà anh ta đều đã bị đập vỡ, anh ta biết ngay rằng anh ta sẽ không sao ngủ được, đêm đó hay bất kể đêm nào khác. Sự yên ổn đã hết, sự bình yên trong tâm trí đã bị phá hủy. Anh ta đã bị phản bội.

Anh ta cũng ước gì mình bình tĩnh hơn, cứng rắn hơn, ước gì đã kéo vợ chưa cưới đi cùng. Nếu vậy, khi họ đến tìm, anh ta có thể bảo, “Tôi à? Tôi vừa từ Tây Ban Nha về. Bốn ngày ở Andalucía với vợ chưa cưới. Người bạn gái hấp dẫn, nghề nghiệp ổn định, hai mươi chín tuổi của tôi.”

Nhưng như vậy cũng chẳng có gì khác biệt, phải không? Cho dù anh ta nói gì, làm gì, sống theo cách nào thì cũng đâu có gì quan trọng: đằng nào thì họ cũng sẽ vẫn cứ đóng đinh anh ta lên cây thập giá thôi. Đối với cảnh báo chí, cảnh sát, trường học, Cộng đồng, nào có quan trọng gì việc anh ta không phải một kẻ lầm lạc có lịch sử theo đuổi các cô gái chỉ bằng nửa tuổi mình. Cho dù anh ta đã từng yêu và được yêu thì cũng nào có gì quan trọng. Sẽ chẳng ai thèm quan tâm đến việc tình cảm của họ xuất phát từ hai phía - sự chín chắn của Katie, sự nghiêm túc của cô, sự thông minh của cô, lựa chọn của cô - chẳng có gì trong số đó có gì quan trọng. Điều duy nhất họ nhìn thấy là tuổi tác của anh ta, hai mươi chín, và của cô, mười lăm, và rồi họ sẽ xé tan cuộc đời anh ta.

Anh ta đứng trên bãi cỏ, nhìn chằm chằm những ô cửa sổ bít ván, và bật khóc nức nở. Nếu còn sót lại chút gì để mà đập vỡ, vậy thì chính anh ta sẽ ra tay. Anh ta đứng trên bãi cỏ và nguyền rủa cô, nguyền rủa cái ngày anh ta lần đầu tiên để mắt đến cô, xinh đẹp hơn nhiều so với những người bạn ngu ngốc tự tin của cô. Anh ta nguyền rủa cái ngày cô chậm rãi tiến đến bàn giáo viên, nhẹ nhàng đánh hông và môi nở nụ cười, và hỏi, “Thưa thầy Henderson? Nhờ thầy giúp em một chuyện được không?” Cái cách cô ngả người về phía anh ta, đủ gần để anh ta có thể ngửi thấy mùi hương sạch sẽ không dính nước hoa của cô. Ban đầu anh ta đã giật mình sửng sốt, và giận dữ, anh ta những tưởng cô đang đùa bỡn anh ta. Giễu cợt anh ta. Chẳng phải chính cô là người khơi ra toàn bộ chuyện này sao? Và tại sao lại thành ra anh ta bị bỏ lại một mình gánh chịu hậu quả? Anh ta đứng trên bãi cỏ, lệ ứa lên trong mắt, nỗi hoảng loạn dâng lên trong cổ họng, và anh ta căm ghét Katie, căm ghét chính mình, căm ghét cái đống hỗn độn ngu xuẩn anh ta đã tự dấn thân vào và giờ đây không tìm đâu ra được đường trốn thoát.

Biết làm gì đây? Vào trong nhà, đóng gói đồ đạc còn lại và bỏ đi? Chạy trốn? Tâm trí anh ta chìm trong màn sương mù: đi đâu đây, và bằng cách nào? Có phải bọn họ đã đang theo dõi? Hẳn phải thế rồi. Nếu anh ta rút tiền, liệu họ có biết không? Nếu anh ta lại tìm cách rời khỏi đất nước, liệu họ có ở đó không? Anh ta tưởng tượng ra cảnh tượng ấy, nhân viên kiểm tra hộ chiếu liếc nhìn bức ảnh của anh ta và nhấc điện thoại lên, những người mặc cảnh phục lỗi anh ta ra khỏi dãy những người đi nghỉ mát đang xếp hàng, khuôn mặt lộ vẻ tò mò. Khi nhìn anh ta, liệu họ có biết anh ta là ai không? Không phải tay buôn ma túy, không phải kẻ khủng bố - không; anh ta hẳn phải là một thứ khác. Một thứ tồi tệ hơn nhiều. Anh ta nhìn những ô cửa sổ bịt ván trống trơn, hình dung ra họ đang ở bên trong, họ đang đợi anh ta ở đó, họ đã lục lọi đồ đạc của anh ta, sách vở giấy tờ của anh ta, họ đã xới tung ngôi nhà lên để tìm kiếm bằng chứng cho những gì anh ta đã làm.

Và họ sẽ chẳng tìm thấy gì hết. Anh ta bỗng cảm tia hy vọng mơ hồ ấy. Chẳng có gì để mà tìm kiếm hết. Không thư tình, không ảnh lưu trên laptop, không có bằng chứng nào về việc cô đã từng đặt chân vào nhà anh ta (khăn trải giường và áo gối đã biến mất từ lâu, toàn bộ ngôi nhà đã được dọn dẹp sạch sẽ, tẩy rửa, lau chùi tất tật những dấu vết cuối cùng của cô). Họ có bằng chứng gì cơ chứ, ngoại trừ những tưởng tượng của một đứa con gái tuổi teen ưa thù oán? Một đứa con gái choai choai đã tìm cách ve vãn anh ta và bị từ chối hoàn toàn. Không ai biết, không ai thật sự biết, chuyện giữa anh ta và Katie là như thế nào, và cũng chẳng ai cần biết hết. Nel Abbott đã thành tro bụi, và lời nói của con gái cô ta cũng chỉ có giá trị đến mức đó mà thôi.

Anh ta nghiến chặt răng và lục tìm chìa khóa trong túi quần, rồi đi vòng quanh nhà mở cửa hậu.

Cô ta áp sát anh ta trước khi anh ta kịp bật điện, gần như chẳng phải một con người bằng xương bằng thịt, chẳng có gì ngoài một cái miệng đen ngòm, hàm răng và móng tay. Anh ta hất văng cô ta ra, nhưng cô lại xáp tới. Anh ta còn lựa chọn nào khác đâu? Cô ta có để lại lựa chọn gì cho anh ta đâu?

Và giờ thì máu đã dây ra sàn và anh ta không có thời gian lau dọn. Trời sắp sáng rồi. Anh ta phải đi thôi.

Jules

Nó đã đến với tôi, khá đột ngột. Một sự sáng tỏ. Ngay phút trước tôi còn sợ hãi và hoảng loạn, những phút sau tôi không còn thế nữa, vì tôi đã biết. Không phải biết Lena ở đâu, mà là con bé là ai. Và với sự sáng tỏ đó, tôi đã có thể bắt đầu tìm kiếm con bé.

Tôi đang ngồi trong bếp, đờ đẫn, say mèm rượu pân. Cảnh sát đã rời đi, đã trở lại dòng sông để tiếp tục cuộc tìm kiếm. Họ bảo tôi cứ ở nguyên tại chỗ, đề phòng con bé về. Nhỡ con bé về. Tiếp tục gọi điện đi, họ nói, luôn để mở điện thoại. Được chứ, Julia? Luôn để mở điện thoại nhé. Họ nói với tôi cứ như tôi còn bé lắm.

Tôi chẳng thể trách họ, hẳn là thế, vì họ đã ngồi kia hỏi tôi những câu tôi không thể trả lời. Tôi biết tôi đã gặp Lena lần cuối khi nào, nhưng tôi không thể nói được con bé ở trong nhà lần cuối là vào lúc nào. Tôi không biết con bé mặc gì lúc rời nhà; tôi không thể nhớ được con bé mặc gì vào lần cuối tôi nhìn thấy nó. Tôi không sao tách bạch được giữa mơ và thực: tiếng nhạc là thực, hay chỉ là do tôi tưởng tượng ra nhỉ? Ai đã khóa cửa, ai đã bật đèn? Các điều tra viên nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ và thất vọng: sao tôi lại để cho con bé đi, một khi con bé khổ sở đến thế sau khi tranh cãi với Louise Whittaker? Sao tôi không chạy theo con bé, để an ủi nó? Tôi nhìn thấy ánh mắt đầy ẩn ý họ trao cho nhau, ánh mắt phán xét thầm lặng. Người phụ nữ này thì làm giám hộ kiểu gì mới được chứ?

Chị cũng ở trong đầu em, trách mắng em. Tại sao em không đi theo con bé, như chị đã theo em? Tại sao em không cứu con bé, như chị đã cứu em? Hồi mười bảy tuổi, tôi đã cứu em gái tôi khỏi chết đuối. Hồi chị mười bảy tuổi, Nel ạ, chị đã đẩy em vào trong dòng nước và ấn em xuống. (Vẫn màn tranh cãi cũ rích ấy, đẩy qua đẩy lại - chị nói, em nói, chị nói, em nói. Em chẳng còn bụng dạ nào cho chuyện đó nữa, em không muốn nó kéo dài thêm nữa.)

Và nó nằm ngay ở đó. Trong tiếng ong ong kiệt sức, trong sự run rẩy nhộn nhạo trong lòng vì sợ hãi, em nhìn thấy một thứ, thoáng bắt gặp một thứ. Dường như một thứ gì đó đã chuyển động, một cái bóng hiện ra ngay rìa tầm nhìn của em. Có thật là chị, chị đã hỏi, đã đẩy em đến với dòng nước? Chính là chị, hay Robbie nhỉ? Hay một sự kết hợp nào đó của cả hai?

Sàn nhà dường như nghiêng đi và em tóm vội lấy quầy bếp để đứng cho vững. Một sự kết hợp nào đó của cả hai. Em cảm thấy nghẹn thở, ngực em thắt lại như thể em sắp lên cơn hoảng loạn. Em chờ thế giới biến thành màu trắng, nhưng nó không thế. Em vẫn đang đứng, em vẫn đang thở. Một sự kết hợp nào đó. Em chạy đến chỗ cầu thang, lao lên trên vào trong phòng chị, và đây rồi! Bức ảnh chị chụp cùng Lena, khi con bé đang nở nụ cười thú săn mồi - đó không phải là chị. Đó không phải nụ cười của chị. Nó là của anh ta. Nó là của Robbie Cannon. Giờ em có thể nhìn thấy nó, nhoáng lên với em trong lúc anh ta đang nằm trên người chị và ấn vai chị lún xuống cát. Con bé là thế đó, Lena là thế đó. Con bé là sự kết hợp của hai người bọn chị. Lena là của chị, và con bé là của anh ta. Lena là con gái của Robbie Cannon.

Jules

Em ngồi xuống giường, tay cầm bức ảnh lồng khung. Chị và con bé đang mỉm cười với em, khiến cho những giọt nước mắt long lanh nóng hổi dâng lên trong mắt em, và cuối cùng em cũng đã khóc vì chị như đáng lẽ em nên làm ở đám tang của chị. Em nhớ lại anh ta ngày hôm đó, cách anh ta nhìn Lena - em đã hoàn toàn hiểu nhầm ánh mắt đó. Đó không phải ánh mắt săn mồi, nó là ánh mắt sở hữu. Anh ta không nhìn con bé theo kiểu nhìn một đứa con gái để anh ta quyến rũ, để anh ta chiếm hữu. Con bé vốn đã thuộc về anh ta rồi. Vậy nên có phải anh ta đã đến đây vì nó không, để lấy lại những gì vốn thuộc về anh ta một cách hợp pháp?

Tìm ra anh ta không khó. Bố anh ta từng có một chuỗi cửa hàng bán xe hào nhoáng rải khắp vùng Đông Bắc. Cannon Cars, công ty có tên như thế. Nó không còn tồn tại nữa, công ty đã phá sản được vài năm rồi, nhưng vẫn còn một cơ sở nhỏ hơn, ảm đạm hơn, tiền thuê rẻ hơn ở Gateshead. Tôi tìm thấy một website thiết kế lởm khởm đăng hình anh ta ngay trên trang chủ, nhìn thì có thể thấy bức ảnh được chụp cách đây đã khá lâu. Hồi đó bụng anh ta đỡ phệ hơn, khuôn mặt vẫn còn vương vất dáng vẻ của anh chàng điển trai, tàn nhẫn ngày xưa.

Tôi không gọi cảnh sát, vì tôi không chắc họ có chịu nghe không. Tôi chỉ cầm chìa khóa xe lên và đi. Tôi cảm thấy gần như hài lòng với bản thân khi lái xe rời khỏi Beckford - tôi đã đoán ra chuyện đó, tôi đang nắm quyền kiểm soát. Và tôi càng đi xa ngôi làng, cảm giác ấy càng mạnh mẽ hơn, màn sương mù mệt mỏi dần tan, tứ chi tôi thả lỏng. Tôi thấy đói, đói ngấu, và tôi tận hưởng cảm giác ấy; tôi nhay nhay bên trong má và nếm thấy vị tanh tanh. Một phần xa xưa nào đó trong tôi, vết tích của con người giận dữ, không biết sợ hãi nào đó, đã trỗi dậy, tôi hình dung ra cảnh mình đang mắng như tát nước vào mặt anh ta, cào cấu anh ta. Tôi hình dung ra mình là một chiến binh Amazon, đang lần lượt rứt từng cái chân cái tay của anh ta ra khỏi cơ thể.

Cửa hàng sửa xe nằm trong một khu vực xập xệ của thị trấn, bên dưới vòm cầu vượt đường xe lửa. Một chỗ đầy điềm gở. Đến lúc tới nơi, tôi đã mất sạch can đảm. Tay tôi run lên bần bật khi với tay sang số hoặc gạt công tắc xi nhan, miệng tôi ứa vị dịch mật, không phải máu. Tôi cố gắng tập trung vào việc mình phải làm - tìm thấy Lena, giữ an toàn cho Lena - nhưng năng lượng của tôi đã cạn kiệt bởi đã bị dồn hết cho nỗ lực đẩy lùi những ký ức vốn đã bị tôi đè nén quá nửa đời người, những ký ức giờ đang trỗi dậy như củi rề nổi lên trên mặt nước.

Tôi đỗ xe phía bên kia đường đối diện cửa hàng sửa xe. Một người đàn ông đang đứng ngoài đường, hút thuốc lá - một người trẻ tuổi hơn, không phải Cannon. Tôi ra khỏi xe và kéo đôi chân run rẩy băng qua đường đến nói chuyện với anh ta.

“Tôi muốn nói chuyện với Robert Cannon, được không nhỉ?” tôi ướm hỏi.

“Về chuyện ô tô của cô à?” anh ta nói, chỉ về phía cái ô tô sau lưng tôi. “Cô cứ mang nó vào trong…”

“Không, không phải chuyện đó. Tôi cần nói chuyện với… Anh ta có ở đây không?”

“Không phải chuyện ô tô à? Anh ta đang ở trong văn phòng,” anh ta nói, hất đầu chỉ về phía sau anh ta. “Cô muốn gặp thì cứ vào đi.”

Tôi ngó vào khoảng không gian tối om như trong hang động và dạ dày tôi thắt lại. “Không” tôi nói vẻ vững vàng hết mức, “tôi muốn nói chuyện với anh ta ngoài này.”

Anh ta cắn răng hít vào một hơi và búng điếu thuốc lá hút dở ra giữa đường. “Tùy cô thôi,” anh ta nói và sải bước vào trong.

Tôi chuồi tay vào túi quần, nhận ra điện thoại của mình vẫn cất trong túi xách, lúc này vẫn đang nằm trên ghế ô tô. Tôi xoay người quay trở lại xe, biết rõ nếu làm thế thể nào tôi cũng sẽ không quay lại nữa, rằng nếu đã được bao bọc trong bầu không khí an toàn nơi ghế lái, tôi sẽ đánh mất toàn bộ dũng khí, tôi sẽ khởi động xe và lái đi.

“Tôi giúp gì được không?” Tôi đông cứng người lại. “Cô muốn gì sao, cô em?”

Tôi xoay người lại, và anh ta đứng đó, thậm chí còn xấu xí hơn nhiều so với hôm ở lễ tang. Khuôn mặt anh ta đã trở nên phì phị, toát ra vẻ hèn hạ, mũi anh ta đỏ tía, chằng chịt gân xanh tỏa ra hai bên má như một vùng cửa sông. Dáng đi của anh ta vẫn y như cũ, như con tàu nghiêng bên này ngả bên kia theo từng bước chân. Anh ta liếc nhìn tôi. “Tôi có quen cô không nhỉ?”

“Anh là Robert Cannon à?” tôi hỏi.

“Phải,” anh ta đáp. “Tôi là Robbie đây.”

Trong một tích tắc, tôi thấy thương thay cho anh ta. Đó là cách anh ta nói tên của mình, vẫn dùng tên thân mật. Robbie là tên trẻ con, tên của một cậu bé chạy quanh vườn sau và trèo lên cây. Đó không phải tên của một kẻ thất bại thừa cân, một kẻ phá sản đang điều hành một cửa hàng sửa xe thu nhập bấp bênh ở một khu vực nhếch nhác của thị trấn. Anh ta bước về phía tôi và tôi loáng thoáng ngửi thấy mùi của anh ta, mùi cơ thể lẫn mùi rượu, và tất tật cảm giác cảm thương đều bay hơi sạch sành sanh khi cơ thể tôi nhớ lại cảm giác về cơ thể anh ta, khiến tôi không sao thở nổi.

“Nghe này, cưng ơi, tôi đang bận lắm,” anh ta nói.

Hai bàn tay tôi viết lại thành nắm đấm. “Con bé có đây không?” tôi hỏi.

“Ai có ở đây không?” Anh ta cau mày, rồi đảo tròn thò tay vào trong túi quần jean tìm thuốc lá. “À, mẹ kiếp, cô không phải bạn Shelly đấy chứ? Bởi vì, như tôi đã nói với ông già của cô ta rồi, mấy tuần qua tôi không gặp con đĩ ấy, vậy nên nếu là về chuyện này thì cô có thể biến đi được rồi đấy, được chứ?”

“Lena Abbott,” tôi nói, giọng lí nhí chỉ lớn hơn tiếng huýt gió. “Con bé có ở đây không?”

Anh ta châm thuốc lá. Ẩn đằng sau đôi mắt nâu mờ đục của anh ta, một thứ gì đó ánh lên. “Cô đang tìm… ai nhỉ? Con gái của Nel Abbott hả? Cô là ai?” Anh ta nhìn quanh. “Sao cô lại cho rằng con gái Nel ở đây chứ?”

Anh ta không giả vờ. Anh ta quá ngu ngốc đến nỗi chẳng thể giả vờ chuyện này được, tôi có thể thấy rõ điều đó. Anh ta không biết Lena đang ở đâu. Anh ta không biết con bé là ai. Tôi quay người bỏ đi. Tôi càng nấn ná, anh ta sẽ càng hoài nghi. Tôi sẽ càng để lộ nhiều hơn.

“Hượm đã,” anh ta nói, đặt một tay lên vai tôi, và tôi quay ngoắt lại, xô anh ta tránh xa ra.

“Bình tĩnh nào!” anh ta nói, giơ hai bàn tay lên, nhìn quanh quất như để tìm kiếm sự hỗ trợ. “Đang có chuyện gì vậy hả? Cô đang…” Anh ta nheo mắt nhìn tôi. “Tôi đã gặp cô rồi… cô đã có mặt ở đám tang.” Cuối cùng, anh ta cũng ngộ ra. “Julia?” Khuôn mặt anh ta dãn ra thành một nụ cười. “Julia! Quỷ tha ma bắt. Anh đã không nhận ra em đấy…” Anh ta săm soi tôi một lượt, từ đầu đến chân. “Julia. Sao em không nói gì?”

Anh ta mời tôi uống trà. Tôi phá lên cười và không sao ngừng lại được, tôi cười mãi cho tới khi nước mắt chảy thành dòng trên mặt trong lúc anh ta vẫn đứng đó, đầu tiên cũng khúc khích cười theo, cho tới khi sự vui vẻ ngập ngừng của anh ta tan biến và anh ta đứng đó, mờ mịt và không hiểu gì, lom lom nhìn tôi.

“Có chuyện gì vậy?” anh ta hỏi, bực mình.

Tôi lấy mu bàn tay quệt nước mắt. “Lena bỏ nhà đi rồi,” tôi nói. “Tôi đã tìm con bé khắp nơi, tôi cứ tưởng biết đâu…”

“Chậc, nó không có ở đây đâu. Thế quái nào mà em lại nghĩ nó sẽ ở đây chứ? Anh thậm chí còn chẳng biết đến sự tồn tại của con nhóc đó nữa, lần đầu tiên anh nhìn thấy nó là ở đám tang. Nói thật là anh cũng điếng cả người đấy. Con bé giống Nel quá.”

Anh ta điều chỉnh nét mặt thành vẻ quan tâm giả tạo. “Anh rất tiếc khi nghe về chuyện đã xảy ra. Thật lòng đấy, Julia.” Anh ta lại cố chạm vào tôi, nhưng tôi đã tránh ra. Anh ta dấn thêm một bước lại gần tôi. “Anh chỉ… Anh không tin nổi em là Julia! Trông em khác quá.” Một nụ cười xấu xí lan ra trên mặt anh ta. “Không hiểu sao mà anh lại quên được nhỉ,” anh ta nói khẽ, nhỏ giọng. “Anh đã bụp trái anh đào của em mà, phải không nhỉ, cô em?” Anh ta bật cười. “Cách đây lâu lắm lắm rồi.”

Bụp trái anh đào của em. Bụp! Một âm thanh vui vẻ, của bóng bay và những bữa tiệc sinh nhật. Và anh đào, ngọt ngào trên môi, ngon lành và mọng nước, những thứ đó cách xa hàng triệu dặm với cái lưỡi lầy nhầy của anh ta trong miệng tôi và những ngón tay bẩn thỉu của anh ta banh mở tôi ra. Tôi tưởng mình sắp nôn đến nơi.

“Không, Robbie ạ,” tôi nói, và tôi lấy làm ngạc nhiên là giọng tôi lại có vẻ rõ ràng đến vậy, to đến vậy, vững vàng đến vậy. “Anh không bụp trái anh đào nào của tôi. Anh đã cưỡng hiếp tôi.”

Nụ cười trượt khỏi khuôn mặt tàn tạ của anh ta. Anh ta liếc nhìn qua vai rồi lại bước về phía tôi. Giờ đầu óc tôi đang ngập trong adrenaline, hơi thở dồn dập, tôi siết chặt hai nắm đấm và quyết không lùi bước. “Anh cái gì cơ?” anh ta rít lên. “Anh cái gì hả, mẹ kiếp? Anh chưa bao giờ… Anh không cưỡng hiếp em.”

Anh ta thầm thì từ đó, cưỡng hiếp, như thể sợ ai đó có thể nghe thấy.

“Hồi đó tôi mười ba tuổi,” tôi nói. “Tôi đã bảo anh dừng lại, tôi đã khóc đến nổ mẹ nó mắt ra, tôi…” Tôi phải dừng lại vì tôi cảm thấy nước mắt đang chặn ngang cổ họng, nhấn chìm giọng tôi, và giờ tôi không muốn khóc trước mặt gã khốn kiếp này.

“Em khóc vì đó là lần đầu tiên của em,” anh ta nói, thấp giọng, dỗ dành, bởi vì nó hơi đau. Em có bao giờ bảo là em không muốn đâu. Em có bao giờ nói không đâu.” Rồi, anh ta to giọng hơn, dứt khoát, “Đồ dối trá khốn kiếp, mày có bao giờ nói không đâu.” Đoạn anh ta bắt đầu cười phá lên. “Anh đây có thể có bất kỳ thứ gì anh muốn, cô em không nhớ à? Anh đây có đến cả nửa đám con gái Beckford theo đuôi với những cái quần lót ướt át. Anh đây đã có cả chị gái cô em, cô nàng hot nhất vùng. Chẳng lẽ cô em thật tâm cho rằng anh đây mà lại cần phải cưỡng hiếp một con bò cái béo ị như em à?”

Anh ta tin chuyện đó. Tôi có thể thấy anh ta tin từng lời anh ta nói, và trong khoảnh khắc đó, tôi đã thúc thủ. Suốt ngần ấy thời gian, anh ta chưa bao giờ cảm thấy tội lỗi. Anh ta chưa có lấy một giây phút ăn năn hối hận, bởi vì trong đầu anh ta, chuyện anh ta đã làm không phải là cưỡng hiếp. Suốt ngần ấy thời gian anh ta vẫn tin rằng anh ta đã ban phát ân huệ cho đứa con gái béo ị ấy.

Tôi bỏ đi tránh xa anh ta. Đằng sau tôi, tôi có thể nghe thấy tiếng anh ta đang đuổi theo, hổn hển chửi rủa. “Em lúc nào cũng là một con khốn điên rồ, chẳng phải thế à? Lúc nào em cũng thế. Không thể tin nổi em lại xuất hiện ở đây nói cái thứ rác rưởi này, nói…”

Tôi dừng phắt lại, cách chiếc xe vài bước chân. Chẳng phải phần nào đó trong em cũng thấy thích thú à? Một điều gì đó đã thay đổi. Nếu Robbie không cho rằng anh ta đã cưỡng hiếp em, thì làm sao chị lại có thể nghĩ thế? Chị đã nói chuyện gì vậy, Nel? Chị đã hỏi em cái gì? Một phần trong em cũng thấy thích thú với cái gì?

Tôi quay người lại. Robbie đang đứng ngay sau tôi, hai bàn tay buông thõng bên sườn như hai tảng thịt, miệng há ra. “Chị ấy có biết không?” tôi hỏi anh ta.

“Cái gì?”

“Nel có biết không?” tôi hét lên với anh ta.

Anh ta cong môi lên. “Nel biết cái gì? Rằng anh đã phang em? Em đùa đấy à? Cứ thử tưởng tượng xem cô ấy sẽ nói gì đi, nếu anh kể với cô ấy anh đã chịch em gái cô ấy ngay sau khi vừa chịch cô ấy xong?” Anh ta bật cười. “Anh chỉ kể cho cô ấy nghe đoạn đầu thôi, rằng em đã đong đưa như thế nào, em đã say rượu, khóc sướt mướt và đổ lên người anh rồi ngước nhìn anh với cái bộ mặt phì phị ủ rũ ấy và cầu xin, làm ơn đi mà? Y như một con chó con, cô em ấy mà, rình mò bọn anh, thậm chí khi bọn anh đang ở trên giường em cũng thích theo dõi, phải không? Tưởng bọn anh không để ý hả?” Anh ta lại bật cười. “Bọn anh có thấy đấy. Bọn anh thường đùa cợt rằng em là một con nhóc biến thái, con nhóc béo u sầu, chưa từng được ai sờ vào, chưa từng được hôn, thích rình mò bà chị gái nóng bỏng đang ân ái.” Anh ta lắc đầu. “Cưỡng hiếp? Đừng có chọc cười anh chứ. Em muốn có một phần những thứ Nel có, em tỏ rõ mồn một ra đấy còn gì.”

Tôi hình dung ra chính mình, đang ngồi dưới gốc cây, đứng bên ngoài phòng ngủ, theo dõi họ. Anh ta đã đúng, tôi đã theo dõi họ, nhưng không phải với cảm giác ham muốn, không phải với cảm giác ghen tị, mà là với một kiểu kinh ngạc khủng khiếp. Tôi đã xem họ theo cái cách của một đứa trẻ, bởi vì tôi vốn là thế mà. Tôi là một cô bé không muốn chứng kiến cái chuyện người khác đang gây ra cho chị gái mình (bởi vì trông nó đúng là như vậy đấy, trông nó vẫn luôn như thể là một chuyện ai đó gây ra cho chị) nhưng lại không thể rời mắt đi được.

“Anh đã bảo cô ấy rằng em đã cố đong đưa với anh và khi bị anh đẩy ra thì em khóc lóc chạy đi mất, vậy là cô ấy bèn chạy đuổi theo em.”

Những hình ảnh đột ngột quay cuồng trong đầu em: âm thanh những lời chị nói, hơi nóng từ cơn giận dữ của chị, sức ép của hai bàn tay chị khi chị giữ em chìm trong nước và rồi chộp lấy tóc em và lôi em lên bờ.

Con ranh, con ranh béo ị ngu xuẩn, mày đã làm gì vậy hả? Mày đang định làm gì hả?

Hay là, Con ranh ngu ngốc này, em đã làm gì vậy hả?

Và rồi sau đó là, Chị biết anh ấy đã làm tổn thương em, nhưng em trông đợi cái gì chứ?

Cuối cùng tôi cũng đến được chỗ chiếc xe, run rẩy lần tìm chìa khóa. Robbie vẫn đang ở sau tôi, vẫn không ngừng nói. “Phải đấy, đi đi, đồ đĩ dối trá. Cô em chẳng bao giờ cho rằng con bé đó đang ở đây, phải không? Đó chỉ là cái cớ, phải không? Cô em đến để gặp anh. Em muốn nếm thêm lần nữa hả?” Tôi có thể nghe thấy anh ta cười lớn trong lúc anh ta bỏ đi, bắn ra câu chốt hạ đầy ác ý từ phía bên kia đường. “Không có cơ hội đâu, cung ơi, lần này thì không đâu. Có lẽ em đã giảm cân rất nhiều, nhưng em vẫn cứ là một kẻ xấu xí khó ưa thôi.”

Tôi nổ máy, đánh xe đi, chết máy. Bật chửi thề, tôi khởi động lần nữa và chệnh choạng chạy xe xuôi con đường cái, nhấn chân xuống kéo dài hết cỡ khoảng cách giữa anh ta và tôi và chuyện vừa xảy ra, biết rõ đáng lẽ tôi nên lo lắng cho Lena, nhưng lại chẳng thể nghĩ gì về chuyện đó được vì suy nghĩ duy nhất trong đầu tôi là đây: Chị đã không biết.

Chị đã không biết anh ta cưỡng hiếp em.

Khi chị nói, Chị rất tiếc vì anh ấy đã làm tổn thương em, ý chị muốn nói rằng chị rất tiếc vì anh ta đã từ chối em. Khi chị nói, Em trông đợi cái gì chứ? ý chị là tất nhiên anh ta sẽ từ chối em, em mới chỉ là một đứa trẻ. Và khi chị hỏi em, Chẳng phải một phần trong em cũng thấy thích thú à? thì không phải chị đang nói về chuyện tình dục, chị đang nói về dòng nước.

Những màn che rơi xuống. Em đã mù quáng, đã bị che mắt. Chị không biết.

Em dừng xe lại bên vệ đường và òa khóc nức nở, cả người run lên vật vã với cái nhận thức kinh khủng, đáng sợ ấy: chị không biết. Suốt bao nhiêu năm qua, Nel. Suốt bao nhiêu năm qua, em đã nhất quyết cho rằng chỉ là kẻ tàn nhẫn xấu xa nhất trên đời, trong khi chị đã làm gì để mà đáng bị thế chứ? Chị làm gì để mà đáng bị thế chứ? Suốt bao nhiêu năm qua, mà em thì chẳng chịu lắng nghe, em chẳng bao giờ chịu nghe chị. Và giờ đây mới thấy, có vẻ như không thể nào có khả năng em đã không thể nhìn ra, đã không thể hiểu ra rằng khi chị hỏi em, Chẳng phải phần nào đó trong em cũng thấy thích thú à? thì tức là chị đang nhắc đến dòng sông, đến cái đêm ở dòng sông. Chị muốn biết cái cảm giác ta phó mặc bản thân cho dòng nước.

Em nín khóc. Trong đầu em, chị đang lẩm bẩm: Em không có thời gian cho chuyện này đâu, Julia, và em mỉm cười. “Em biết,” em nói thành tiếng. “Em biết.” Em không còn quan tâm Robbie nghĩ gì nữa, em không quan tâm rằng anh ta sẽ dành cả đời tự nhủ rằng anh ta chẳng làm gì sai cả, bọn đàn ông như anh ta lúc nào chẳng thế. Và anh ta nghĩ gì thì có quan trọng gì cơ chứ? Anh ta chẳng là gì với em cả. Điều quan trọng là chị, chị biết gì và không biết gì, và rằng em đã trừng phạt chị trong suốt cuộc đời chỉ vì một chuyện chị đã không làm. Và giờ em không cách nào nói với chị rằng em xin lỗi.

Quay lại Beckford, em dừng xe trên cầu, trèo xuống những bậc thang rêu phong và bước dọc theo con đường mòn ven sông. Đương là đầu giờ chiều, không khí đang dần mát mẻ và gió nhẹ đang dần thổi mạnh hơn. Không phải một ngày hoàn hảo để đi bơi, nhưng em đã chờ đợi quá lâu rồi và em muốn được ở đó, với chị. Giờ đây đó là cách duy nhất giúp em có thể đến gần chị, điều duy nhất còn lại cho em.

Em tháo giày và đứng trên bờ, vẫn mặc quần jean áo phông. Em bắt đầu tiến về phía trước, bước chân này nối tiếp bước chân kia. Em nhắm hai mắt lại, thở hổn hển khi chân em chìm vào lớp bùn mát lạnh, nhưng em không dừng lại. Em vẫn bước tiếp, và khi dòng nước phủ trên đầu em, bất chấp nỗi kinh hoàng, em nhận ra nó có cảm giác thật dễ chịu. Nó thật dễ chịu.

Mark

Máu rỉ qua cái băng gạc đang quấn quanh tay Mark. Anh ta không băng bó cho chỉn chu được, và dù cố hết sức, anh ta cũng không thể ngăn mình khỏi siết tay quá chặt lên vô lăng. Quai hàm anh ta nhức nhối, và một con đau gắt điếng người rần rật bên trong hốc mắt anh ta. Cái ê tô đã quay trở lại, ngoạm lấy hai bên thái dương anh ta; anh ta có thể cảm thấy rõ máu đang dồn căng các huyết quản trong đầu, gần như có thể nghe thấy xương sọ bắt đầu rạn nứt. Lần thứ hai, anh ta phải dừng xe lại bên vệ đường nôn thốc nôn tháo.

Anh ta không biết chạy đi đâu. Anh ta đã lên đường lái về phía Bắc, quay trở lại hướng Edinburgh, nhưng đi được nửa đường thì anh ta đổi ý. Có phải họ sẽ chắc mẩm anh ta sẽ đi theo đường đó? Có phải sẽ có các rào chắn của cảnh sát dựng ở lối vào thành phố, đèn pin chiếu lên mặt anh ta, những bàn tay thô bạo lôi anh ta ra khỏi xe, những giọng nói khẽ bảo anh ta sau đó còn có những chuyện tệ hơn thế này nữa? Tệ hơn nhiều. Anh ta quay lại đi theo đường khác. Anh ta không thể suy nghĩ mạch lạc trong lúc đầu đau như búa bổ thế này. Anh ta cần dừng lại, để thở, để lên kế hoạch. Anh ta bèn rời khỏi đường cái và lái xe về phía bờ biển.

Chuyện anh ta sợ hãi đã bắt đầu xảy ra rồi. Anh ta đã nhìn thấy tương lai phơi bày trước mặt và anh ta không ngừng quay đi quay lại cảnh tượng ấy trong tâm trí: cảnh sát nơi cửa ra vào, các phóng viên hét gào hỏi han anh ta trong lúc anh ta bị lôi ra xe, đầu bị trùm kín. Các cửa sổ đã được sửa chữa, chỉ để rồi lại bị đập vỡ lần nữa. Những lời sỉ nhục hèn hạ trên tường, hòm thư bị nhét đầy phân. Phiên tòa. Ôi Chúa ơi, phiên tòa. Vẻ mặt bố mẹ anh ta khi Lena ném ra các cáo buộc, những câu hỏi tòa sẽ hỏi: khi nào và ở đâu và bao nhiêu lần? Nỗi hổ nhục. Án tù. Nhà tù. Mọi thứ anh ta từng cảnh báo Katie, mọi thứ anh ta đã bảo cô rằng anh ta sẽ phải đối mặt. Anh ta sẽ không sống nổi qua chuyện đó. Anh ta đã bảo cô rằng anh ta sẽ không sống nổi qua chuyện dó.

Buổi tối thứ Sáu tháng Sáu đó, anh ta đã không ngờ sẽ gặp cô. Cô lẽ ra sẽ đi dự một bữa tiệc sinh nhật, một bữa tiệc cô không thể vắng mặt. Anh ta nhớ đã mở cửa ra vào, cảm giác hồ hởi trào dâng y như mỗi lần anh ta nhìn cô, trước khi anh ta có thời gian nhận ra vẻ mặt cô. Lo lắng, ngờ vực. Đã có người nhìn thấy anh ta chiều hôm đó, đang nói chuyện với Nel Abbott trong bãi đậu xe của trường. Họ đã nói chuyện gì? Tại sao anh ta lại nói chuyện với Nel?

“Có người nhìn thấy anh? Ai hả?” Anh ta thích thú, anh ta tưởng cô đang ghen.

Katie quay người đi, xoa tay lên gáy, cử chỉ quen thuộc bất cứ khi nào cô cảm thấy lo lắng hay bối rối. “K? Chuyện gì vậy?”

“Bác ấy biết rồi,” Katie nói khẽ, không nhìn anh ta, và mặt đất dưới chân anh ta biến mất, ném anh ta vào hư không. Anh ta chộp lấy cánh tay cô, giật cô quay người lại đối diện với anh ta. “Em nghĩ Nel Abbott biết rồi.”

Và rồi tất cả ào ào tuôn ra, tất cả những chuyện cô đã nói dối anh ta, tất cả những chuyện cô đã giấu giếm anh ta. Lena đã biết được mấy tháng rồi, em trai Katie cũng biết.

“Lạy Chúa! Lạy Chúa, Katie, sao em lại không kể cho anh? Sao em lại… Lạy Chúa!” Trước đây, anh ta chưa bao giờ hét lên với cô, anh ta có thể thấy rõ cô hoảng sợ đến mức nào, kinh hoàng và lo lắng đến mức nào, nhưng anh ta vẫn không thể kiềm chế được. “Em có hiểu họ sẽ làm gì với anh không? Em có hiểu sẽ như thế nào nếu bị đi tù vì bị kết án là tội phạm tình dục không?”

“Anh không phải thế!” Cô kêu lên.

Anh ta lại túm lấy cô (thậm chí đến cả bây giờ, anh ta vẫn cảm thấy người nóng bừng xấu hổ vì hành động này). “Nhưng anh đúng là thế đấy! Anh đích xác là thế đấy. Chính em đã khiến anh trở thành kẻ đó đấy.”

Anh ta bảo cô đi đi, nhưng cô không chịu. Cô cầu xin, van vỉ. Cô thề rằng Lena sẽ không bao giờ nói. Lena sẽ không bao giờ nói bất cứ điều gì với bất cứ ai về chuyện này. Lena yêu em, nó sẽ không bao giờ làm tổn thương em. Cô đã thuyết phục Josh tin rằng chuyện đã kết thúc rồi, rằng thật ra chẳng có chuyện gì hết, rằng nó không có gì cần lo lắng hết, rằng nếu nó nói gì thì cũng sẽ chỉ có một kết quả duy nhất là khiến cho bố mẹ họ vô cùng đau khổ. Nhưng còn Nel?

“Em thậm chí chẳng rõ liệu bác ấy có biết không.” Katie bảo anh ta. “Lena bảo là có thể bác ấy đã nghe lỏm được gì đó…” Cô dừng lại giữa chừng câu nói, và từ ánh mắt lảng tránh của cô, anh ta dám chắc cô đang nói dối. Anh ta không thể tin cô, không thể tin bất kỳ điều gì cô nói. Cô gái xinh đẹp này, Cô gái đã mê hoặc anh ta, bỏ bùa anh ta, cô ấy không thể tin tưởng được.

Chuyện kết thúc rồi, anh ta bảo cô, nhìn khuôn mặt cô méo xệch, gỡ mình ra khi cô cố gắng choàng tay ôm anh ta, đẩy cô tránh xa ra, ban đầu còn nhẹ nhàng nhưng sau dứt khoát hơn. “Không, nghe này, nghe anh này! Anh không thể tiếp tục gặp em nữa, không phải theo cách này. Không bao giờ nữa, em hiểu không? Chuyện kết thúc rồi. Nó chưa bao giờ xảy ra cả. Chẳng có gì giữa chúng ta hết - chưa bao giờ có bất kỳ chuyện gì giữa chúng ta hết.”

“Xin anh đừng nói thế, Mark, xin anh.” Cô nức nở vật vã đến độ gần như không thở nổi, và trái tim anh ta vỡ ra. “Xin đừng nói thế. Em yêu anh…”

Anh ta mềm lòng lại, anh ta để mặc cô ôm anh ta, anh ta để mặc cô hôn anh ta, anh ta cảm thấy ý chí của anh ta đang dần tan rã. Cô áp sát vào anh ta và rồi anh ta đột nhiên có một ý niệm rõ ràng rằng một người khác cũng đang áp sát vào anh ta, không chỉ một mà tận vài người: những cơ thể đàn ông đang áp sát vào cơ thể bầm giập, tả tơi, bị xâm hại của anh ta, anh ta nhìn thấy hình ảnh này và thô bạo đẩy cô ra.

“Không! Không! Em có biết em đã làm gì không hả? Em đã hủy hoại cuộc đời anh, em có hiểu không? Khi chuyện này bị phanh phui, khi con khốn đó báo cảnh sát - và cô ta thể nào cũng sẽ báo cảnh sát cho xem - đời anh sẽ đi tong. Em có biết ở trong tù, người ta đối xử thế nào với những người giống như anh không? Em biết, phải không? Em có cho rằng anh sẽ sống sót qua chuyện đó không? Anh sẽ không đâu. Cuộc đời anh sẽ đi tong.” Anh ta nhìn thấy nỗi sợ hãi và tổn thương lộ rõ trên mặt cô, nhưng anh ta vẫn nói, “Và đó sẽ là lỗi của em.”

Khi người ta kéo xác cô ra khỏi vùng sông, Mark đã tự trừng phạt bản thân. Nhiều ngày liền, anh ta gần như không thể rời khỏi giường, tuy nhiên, anh ta vẫn phải đối mặt với thế giới, anh ta phải đến trường, phải nhìn vào cái ghế trống không của cô, đối mặt với nỗi đau thương của bạn bè cô bố mẹ cô và không để lộ bất kỳ nỗi đau thương nào của chính mình. Anh ta, người yêu cô sâu sắc nhất, lại không được phép tỏ lòng đau buồn cho cô theo cách cô xứng đáng được nhận. Anh ta không được phép tỏ lòng đau buồn theo cách anh ta xứng đáng được thể hiện, bởi vì mặc dù đã tự trừng phạt bản thân vì những gì anh ta đã nói với cô trong cơn giận dữ, anh ta vẫn biết rằng chuyện này thật ra không phải lỗi của anh ta. Chuyện này không có chút xíu nào là lỗi của anh ta - làm sao có thể chứ? Nào ai có thể ép buộc được trái tim phải lòng hay không phải lòng ai?

Mark nghe thấy một tiếng thịch và giật nẩy người, lạc tay lái ra tận giữa đường, đoạn vội vàng đánh tay trở lại, hơi quá đà, và tấp xe vào vệ đường rải sỏi. Anh ta kiểm tra gương chiếu hậu. Anh ta tưởng vừa đâm phải gì đó, nhưng chẳng có gì ngoài đó cả, chẳng có gì ngoài mặt đường nhựa vắng hoe. Anh ta hít một hơi thở sâu và lại siết chặt vô lăng nhăn mặt khi nó ép vào vết thương trên bàn tay. Anh ta bật radio, vặn âm lượng lên hết cỡ.

Anh ta không biết sẽ làm gì với Lena. Ý định ban đầu của anh ta là lái xe theo hướng Bắc tới Edinburgh, vứt xe lại một bãi đỗ rồi bắt phà đem theo nó đến lục địa châu Âu. Chẳng mấy mà họ sẽ tìm thấy nó thôi. Chậc, cuối cùng rồi họ cũng sẽ tìm thấy nó thôi. Có lẽ anh ta đã cảm thấy thật kinh khủng, nhưng anh ta vẫn phải liên tục nhắc nhở bản thân rằng chuyện này không phải lỗi của anh ta. Con bé đã xông vào anh ta, không phải ngược lại. Và khi anh ta cố gắng đánh lui nó, tránh né nó, nó lại cứ thế xông vào anh ta, la hét cào cấu, vung vẩy móng vuốt. Anh ta đã ngã, sõng soài trên sàn bếp, cái túi xách rời khỏi người anh ta trượt trên sàn lát gạch. Và từ bên trong rơi ra, như thể được điều khiển bởi một vị thần mang óc hài hước bệnh hoạn, chiếc vòng tay. Chiếc vòng tay anh ta vẫn mang theo người kể từ lúc lấy nó từ bàn làm việc của Helen Townsend, thứ nắm giữ một sức mạnh mà anh ta vẫn chưa thể hình dung ra cách nào cưỡng lại, nó đã rơi ra, trượt ngang qua mặt sàn giữa hai người họ.

Lena nhìn nó như thể nó là một món đồ từ hành tinh lạ. Nhìn vẻ mặt nó, cứ như thể nó là viên đá kryptonite xanh lục đang tỏa sáng vậy. Rồi vẻ bối rối qua đi và nó đã lại chồm lên người anh ta, chỉ có điều lần này nó cầm trong tay cây kéo nhà bếp và đang vung mạnh nó về phía anh ta, về phía mặt anh ta, cổ anh ta, vung vẩy như thể nó thật sự muốn làm thế. Anh ta giơ cả hai tay lên để tự vệ và nó rạch toác một đường trên tay anh ta. Giờ vết thương đang rần rật, giận dữ, đồng nhịp với nhịp tim dồn dập của anh ta.

Thịch, thịch, thịch. Anh ta kiểm tra gương chiếu hậu lần nữa - không có ai phía sau - và giậm chân phanh. Một tiếng thịch ghê tởm, vừa lòng mãn ý vang lên khi cơ thể nó đập vào lớp kim loại, và tất cả lại chìm trong im lặng.

Anh ta lại dừng xe bên vệ đường lần nữa, lần này không phải để nôn, mà để khóc. Cho anh ta, cho cuộc đời đã bị hủy hoại của anh ta. Anh ta gào lên những tiếng nức nở thắt ruột chất chứa nỗi phẫn hận và tuyệt vọng, anh ta đập bàn tay phải lên vô lăng hết lần này đến lần khác, cho tới khi nó trở nên đau đớn chẳng kém gì bàn tay bên trái.

Lần đầu tiên họ ngủ với nhau, Katie mười lăm tuổi hai tháng. Chỉ cần mười tháng nữa là cô sẽ đủ tuổi theo luật pháp. Sẽ chẳng ai có thể động đến họ - dù sao cũng là về mặt luật pháp. Anh ta sẽ phải bỏ việc và có lẽ một vài người sẽ vẫn ném đá, họ sẽ vẫn gọi anh ta là đồ này đồ nọ, nhưng anh ta vẫn có thể sống được với chuyện đó. Họ vẫn có thể sống được với nó. Mười tháng khốn nạn! Lẽ ra họ nên đợi. Lẽ ra anh ta nên kiên quyết đợi. Katie chính là người sốt ruột, Katie chính là người không thể nín nhịn, Katie chính là người thúc ép chuyện đó là người muốn biến anh ta thành của cô, một cách không thể bác bỏ. Và giờ thì cô đã đi rồi, và anh ta mới là người phải trả giá.

Sự bất công ấy giày vò anh ta, thiêu đốt da thịt anh ta như a xít, và cái ê tô không ngừng siết lại, chặt hơn nữa chặt hơn nữa, và anh ta cầu Chúa sao cho nó cứ nghiền nát anh ta đi, cứ bửa đôi đầu anh ta ra, và giống như cô, giống như Katie, anh ta thế là xong với chuyện này.

Lena

Lúc tỉnh dậy, tôi hoảng loạn, tôi không biết mình đang đâu. Tôi không nhìn thấy gì hết. Xung quanh tối đen như mực. Nhưng dựa theo âm thanh, chuyển động và mùi xăng dầu, tôi nhận ra mình đang ở trong một chiếc ô tô con. Cả đầu lẫn miệng tôi đều đau đớn vô cùng, không khí nóng nực bức bối và có thứ gì đó đang chọc vào lưng tôi, thứ gì đó cũng giống như một cái chốt kim loại. Tôi vặn vẹo tay dò ra sau lưng cố tóm lấy nó, nhưng nó đã bị gắn chặt lại rồi.

Thật đáng thất vọng, vì thứ tôi thật sự cần là một món vũ khí. Tôi hoảng sợ, nhưng tôi biết tôi không thể cho phép nỗi sợ kiểm soát mình. Tôi cần suy nghĩ mạch lạc. Mạch lạc và nhanh chóng, bởi vì chẳng sớm thì muộn chiếc xe này cũng sẽ dừng và sau đó sẽ là chuyện một mất một còn, hoặc ông ta hoặc tôi, và sẽ không đời nào có chuyện ông ta khử được cả Katie lẫn mẹ và tôi. Không đời nào. Tôi phải tin điều đó, phải không ngừng nhắc nhở mình: chuyện này sẽ kết thúc với việc tôi sống còn ông ta chết.

Suốt nhiều tuần kể từ khi Katie qua đời, tôi đã nghĩ đến vô vàn cách để khiến Mark Henderson phải trả giá cho những gì ông ta đã gây ra, nhưng tôi chưa bao giờ tính đến việc giết người. Tôi đã nghĩ đến những thứ khác: sơn này nọ lên tường nhà ông ta, làm vỡ cửa sổ nhà ông ta (đã tới đó, đã làm thế), gọi điện cho bạn gái ông ta để kể cho cô ta tất tật những chuyện Katie đã nói với tôi: bao nhiêu lần, khi nào, ở đâu. Rằng ông ta thích gọi cô ấy là “bé cưng của thầy” như thế nào. Tôi đã nghĩ đến chuyện kiếm vài đàn anh lớp trên đá cho ông ta tóe cả phân ra. Tôi đã nghĩ đến chuyện cắt thằng nhỏ của ông ta ra đem cho ông ta ăn. Nhưng tôi chưa từng nghĩ đến chuyện giết ông ta. Chưa từng nghĩ đến, cho tới hôm nay.

Sao tôi lại lâm vào cảnh này chứ? Tôi không thể tin nổi sao mình lại có thể ngu ngốc để cho ông ta chiếm thế thượng phong. Lẽ ra tôi không bao giờ nên đến nhà ông ta, không bao giờ trừ phi đã có một kế hoạch rõ ràng, không bao giờ trừ phi đã biết chính xác tôi sẽ làm gì.

Tôi thậm chí còn chẳng buồn suy nghĩ, tôi cứ đi bước nào tính bước đấy thôi. Tôi biết ông ta đang trên đường đi nghỉ về - tôi đã nghe Sean và Erin nói vậy. Và rồi, sau tất cả những điều bác Louise đã nói, và sau cuộc nói chuyện với dì Julia rằng đây không phải lỗi của tôi hay của mẹ, tôi chỉ nghĩ rằng, biết sao không? Đã đến lúc rồi. Tôi chỉ muốn đứng trước mặt ông ta và buộc ông ta phải chịu chung một phần trách nhiệm. Tôi muốn ông ta thừa nhận, thừa nhận những gì ông ta đã làm và rằng đó là chuyện sai lầm. Vậy nên tôi đã đến đó, và vì tôi đã làm vỡ khung kính ở cửa hậu nhà ông ta từ trước, chẳng khó gì để đột nhập vào bên trong.

Ngôi nhà bốc mùi bẩn thỉu, như thể ông ta đã bỏ đi mà không chịu dọn rác hay sao đó. Mất một lúc, tôi chỉ đứng trong bếp soi đèn pin điện thoại ra xung quanh, nhưng rồi tôi quyết định cứ bật đèn lên, bởi vì từ ngoài đường nhìn vào ta sẽ không thấy được ánh đèn trong này, và dẫu cho hàng xóm của ông ta có nhìn thấy thì họ cũng sẽ chỉ nghĩ rằng ông ta đã về nhà thôi.

Nó bốc mùi bẩn thỉu vì đúng là nó bẩn thỉu thật. Kinh tởm, thật sự luôn - đồ chưa rửa chất trong bồn, cùng với các hộp đựng thức ăn chế biến sẵn vẫn dính đầy đồ thừa, mọi bề mặt đều nhẫy dầu mỡ. Và cả đống chai rượu vang rỗng lổn nhổn trong thùng rác. Tôi hoàn toàn không ngờ sẽ gặp cảnh này. Từ cung cách ông ta thể hiện ở trường - lúc nào cũng ăn mặc gọn gàng, móng tay sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng - tôi cứ tưởng ông ta là kẻ mắc bệnh ngăn nắp.

Tôi đi tới phòng khách, lại dùng điện thoại săm soi khắp nơi - tôi không bật điện lên, phòng trường hợp nhìn từ ngoài đường vào sẽ thấy. Chỗ này quá thường. Đồ nội thất rẻ tiền, rất nhiều sách và CD, không ảnh trên tường. Nó bình thường và bẩn thỉu và u buồn.

Tầng trên còn tệ hơn nữa. Phòng ngủ hôi rình. Giường không dọn, tủ quần áo mở toang, bốc mùi khó ngửi - khác với tầng dưới, nó có mùi chua và mùi mồ hôi, y như một con vật bị ốm. Tôi kéo rèm cửa lại và bật đèn cạnh giường lên. Nó thậm chí còn kinh hơn cả tầng dưới, trông cứ như thể là chỗ ở của một lão già nào đó vậy - những bức tường màu vàng xấu xí với rèm nâu, quần áo giấy tờ vương vãi trên sàn. Tôi mở một ngăn kéo tủ, thấy có nút bịt lỗ tai và bấm móng tay. Trong ngăn tủ dưới cùng, có bao cao su, chất bôi trơn và còng tay bằng vải lông.

Tôi thấy buồn nôn. Tôi ngồi xuống giường, và rồi để ý thấy ga trải giường ở góc đối diện đã bị lột ra một ít và tôi có thể nhìn thấy bên dưới dính vết bẩn màu nâu. Tôi quả thực đã nghĩ mình sẽ nôn ra mất. Thật đau đớn biết bao, thể xác tôi cũng thấy đau, khi nghĩ đến chuyện Katie đã ở đây, với ông ta, tại căn phòng kinh khủng này trong ngôi nhà tởm lợm này. Tôi toan rời đi. Dù sao đi nữa, đây đúng là một ý tưởng ngu ngốc, đến chỗ này trong khi chẳng có kế hoạch gì. Tôi tắt đèn rồi đi xuống tầng dưới, và lúc gần ra đến cửa hậu thì tôi nghe có tiếng động bên ngoài, tiếng bước chân vang trên lối đi. Và rồi cửa bật mở và ông ta đã đứng đó. Ông ta trông thật xấu xí, cả mặt lẫn mắt đều đỏ, miệng há ra. Tôi cứ thế xáp tới ông ta. Tôi muốn móc mắt ông ta ra khỏi khuôn mặt xấu xí đó, tôi muốn nghe ông ta la hét. Tôi không biết sau đó đã có chuyện gì nữa. Ông ta bị ngã, tôi cho là thế, và tôi khuỵu gối xuống, và có thứ gì đó trượt ngang qua mặt sàn về phía tôi. Một mẩu kim loại, giống như một cái chìa khóa. Tôi với tay về phía nó, thấy nó không lởm chởm mà trơn nhẵn. Một vòng tròn. Một vòng tròn bạc có móc gài bằng mã não đen. Tôi lật nó trong tay. Tôi có thể nghe thấy tiếng khóa cửa kêu tạch một phát lớn tiếng, và tiếng thở của Mark. “Lena,” ông ta nói, và tôi ngước lên, bắt gặp ánh mắt ông ta và tôi có thể thấy rõ ông ta đang sợ hãi. Tôi đứng dậy. “Lena,” ông ta nhắc lại, bước về phía tôi. Tôi có thể cảm thấy mình đang mỉm cười, bởi vì qua khóe mắt, tôi đã phát hiện ra một thứ màu bạc khác, một thứ sắc nhọn, và tôi biết chính xác tôi sẽ làm gì. Tôi sẽ hít một hơi thở và trấn tĩnh lại, tôi sẽ đợi cho tới khi ông ta nhắc tên tôi lần nữa, rồi sau đó tôi sẽ cầm cái kéo đang nằm trên bàn bếp lên và sẽ đâm nó vào cái cổ khốn kiếp của ông ta.

“Lena,” ông ta nói, và ông ta vươn tay ra, và mọi chuyện sau đó xảy ra nhanh như chớp. Tôi chộp lấy cái kéo và lao về ông ta, nhưng ông ta cao hơn tôi và hai cánh tay ông ta giơ lên, và chắc hẳn tôi đã đâm trượt, phải không nhỉ? Bởi vì ông ta không chết, ông ta đang lái xe, còn tôi đang bị nhét ở phía sau đây với một cục u trên đầu.

Tôi bắt đầu hét lên, rõ là ngớ ngẩn, vì nghiêm túc mà nói, ai nghe được tiếng tôi chứ? Tôi dám chắc chiếc xe đang chạy nhanh, nhưng dù sao đi nữa, tôi vẫn hét lên, Thả tôi ra, thả tôi ra, gã khốn ngu xuẩn! Tôi nện nắm đấm lên cái nắp ca pô kim loại phía trên tôi, gào to hết cỡ, và rồi đột nhiên, rầm! Chiếc xe dừng lại và tôi đâm sầm vào thành cốp xe, và tôi mặc cho mình bật khóc.

Không chỉ vì đau đớn. Chẳng hiểu sao tôi không ngừng nghĩ đến tất cả những ô cửa sổ chúng tôi đã làm vỡ ấy, Josh và tôi, và rằng chuyện đó sẽ làm Katie bực bội đến mức nào. Nó sẽ ghét chuyện này cho xem, toàn bộ chuyện này: nó sẽ ghét tôi vì đã bị thương như thế này, nhưng trên hết, nó sẽ ghét tất cả những ô cửa sổ bị vỡ ấy, bởi vì chúng chính là thứ nó vẫn khiếp sợ. Cửa sổ vỡ và dòng chữ đồ ấu dâm bò trên tường, phân trong hòm thư, các phóng viên trên vỉa hè và mọi người nhổ nước bọt, vung nắm đấm.

Tôi khóc vì đau và tôi khóc vì cảm thấy áy náy với Katie, vì chuyện này sẽ khiến nó đau khổ. Nhưng cậu biết gì không, K? tôi nhận ra mình đang thì thầm với Katie, y như một con điên, y như dì Julia vẫn lẩm bẩm một mình trong bóng tối. Tớ xin lỗi. Tớ thật lòng xin lỗi, bởi vì ông ta không đáng bị thế này. Bây giờ tớ có thể nói điều này, bởi vì cậu đã mất và tớ đang nằm trong cốp xe của ông ta miệng chảy máu đầu nứt toác, tớ có thể nói dứt khoát điều này: Mark Henderson không đáng bị truy lùng hay đánh đập. Ông ta xứng đáng với những thứ tồi tệ hơn nhiều. Tớ biết cậu yêu ông ta, nhưng ông ta không chỉ hủy hoại cuộc đời cậu, ông ta còn hủy hoại cuộc đời tớ nữa. Ông ta đã giết mẹ tớ.

Erin

Tôi đang ở trong văn phòng phía sau với Sean thì có người gọi. Một phụ nữ trẻ vẻ mặt bàng hoàng thò đầu vào qua cửa ra vào. “Lại thêm một người nữa, thưa ngài. Có người đã nhìn thấy cô ấy từ trên đỉnh núi. Có một người ở trong dòng nước, một phụ nữ trẻ.” Nhìn vẻ mặt Sean, tôi có cảm tưởng anh ta sắp nôn đến nơi.

“Làm sao thế được,” tôi nói. “Cảnh sát nhan nhản khắp chỗ đấy, sao lại có thêm một người nữa được.”

Đến lúc chúng tôi tới nơi, một đám đông đã tập trung trên cầu, cảnh sát mặc cảnh phục đang cố hết sức giữ họ nguyên trên đấy. Sean chạy và tôi bám theo, guồng chân dưới những tán cây. Tôi muốn giảm tốc độ, tôi muốn dừng lại. Điều tôi không mong muốn chứng kiến nhất trên đời này chính là cảnh người ta lôi cô bé đó ra khỏi dòng nước.

Nhưng, không phải là con bé, người đó là Jules. Lúc chúng tôi đến nơi thì cô đã được đưa lên bờ. Trong không trung vang lên một âm thanh kỳ quái, giống như tiếng chim ác là đang cáu kỉnh. Phải mất một lúc tôi mới nhận ra âm thanh phát ra từ cô, từ Jules. Tiếng hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Cả người cô run rẩy, bộ quần áo ướt sũng dính chặt vào thân hình gầy gò tội nghiệp đang co rúm cuộn lại y như chiếc ghế gấp. Tôi gọi tên cô và cô ngước mắt nhìn tôi trùng trùng, đôi mắt vằn tia máu nhìn thẳng về phía trước xuyên qua tôi, như thể cô không tập trung, như thể cô không nhận ra tôi là ai. Sean cởi áo khoác ra choàng lên vai cô.

Cô lẩm bẩm, như mộng du. Cô sẽ chẳng nói gì với chúng tôi, cô cơ hồ không nhận ra chúng tôi đang ở đó. Cô chỉ ngồi, run rẩy, trừng trừng nhìn dòng nước đen, môi cô mấp máy đúng y như khi cô nhìn thấy chị gái mình trên băng ca, không phát ra âm thanh nhưng dứt khoát, tuồng như cô đang tranh cãi với một kẻ vô hình nào đó.

Sự nhẹ nhõm, không hẳn đáng kể, mới duy trì được vài phút thì cơn khủng hoảng tiếp theo đã ập tới. Mấy cảnh sát đến nhà Mark Henderson định chào đón anh ta đã đi nghỉ về thì phát hiện ra nhà anh ta vắng hoe. Và không chỉ vắng hoe, còn có máu: có dấu hiệu vật lộn trong bếp, máu bắn tóe ra khắp sàn và nắm đấm cửa, còn xe ô tô của Henderson đã biến mất tăm.

“Ôi lạy Chúa,” Sean nói. “Lena.”

“Không,” tôi kêu lên, cố gắng thuyết phục bản thân cũng như thuyết phục Sean. Tôi đang nhớ đến cuộc trò chuyện với Henderson, buổi sáng trước khi anh ta lên đường đi nghỉ. Có điều gì đó ở anh ta, vẻ mệt mỏi thế nào đó, vẻ tổn thương thế nào đó. Không gì nguy hiểm hơn một người đàn ông như thế. “Không. Cảnh sát đã trực ở ngôi nhà rồi mà, họ đã chờ sẵn anh ta, anh ta không thể…”

Nhưng Sean lắc đầu. “Không, họ không làm thế. Họ không trực ở đó. Tối qua có một vụ va chạm nghiêm trọng trên đường A8 và cảnh sát bị huy động hết. Đã có lệnh điều động lại nhân lực. Không ai ở nhà Henderson cả, không có ai hết mãi cho tới tận sáng nay.”

“Mẹ kiếp. Mẹ kiếp.”

“Phải. Hẳn anh ta đã trở về, nhìn thấy cửa sổ bị vỡ hết nên đã lập tức rút ra kết luận chính xác. Rằng Lena Abbott đã kể cho chúng ta gì đó.”

“Và rồi sao - anh ta đến nhà con bé, bắt cóc, mang con bé quay trở lại chỗ anh ta?”

“Tôi thì biết thế quái nào được chứ?” Sean cáu kỉnh. “Đây là lỗi của chúng ta. Đáng lẽ ra chúng ta nên theo dõi ngôi nhà, chúng ta nên theo dõi con bé… Tại chúng ta nên con bé mới biến mất.”

Jules

Viên cảnh sát - không phải người tôi đã gặp lúc trước - muốn vào trong nhà với tôi. Anh ta còn trẻ, có lẽ tầm hai nhăm, mặc dù khuôn mặt tròn trĩnh, nhẵn nhụi khiến anh ta trông trẻ hơn nhiều. Dù anh ta có vẻ tử tế, tôi vẫn nhất quyết bảo anh ta đi đi. Tôi không muốn ở một mình trong nhà với một người đàn ông, bất kể anh ta trông có vô hại đến thế nào đi nữa.

Tôi lên tầng trên và tắm qua loa. Nước, nước, ở khắp mọi nơi. Tôi chẳng mấy thích thú với việc ngâm mình trong nước lần nữa, nhưng tôi không nghĩ ra được cách nào hiệu quả hơn để loại bỏ cái lạnh khỏi xương cốt mình. Tôi ngồi trên mép bồn tắm, cắn môi ngăn hai hàm răng khỏi va vào nhau, điện thoại nắm trong tay. Tôi không ngừng gọi điện cho Lena, hết lần này đến lần khác, tôi không ngừng nghe thấy lời nhắn vui vẻ của con bé, giọng nói tràn ngập niềm hân hoan mà tôi chưa từng được nghe khi con bé nói chuyện với tôi.

Khi bồn tắm đã đầy nửa, tôi hạ người xuống, răng nghiến chặt chống lại cơn hoảng loạn, nhịp tim tăng dần trong lúc cơ thể chìm xuống. Không sao đâu, không sao đâu, không sao đâu. Chị đã nói thế. Tối đó, khi chúng ta ở đây bên nhau, khi chị xối nước ấm lên da em, khi chị dỗ dành em. Không sao đâu, chị nói. Không sao đâu, Julia. Không sao đâu. Không phải thế, tất nhiên, nhưng chị không biết điều đó. Chị đã tưởng rằng chuyện đã xảy ra chỉ gói gọn trong việc em đã có một ngày tệ hại, đã bị cười nhạo, bị xấu hổ, bị một anh chàng em thích chối bỏ. Và cuối cùng, trong một hành động kịch tính cao độ, em đã tới Vũng Sông Chết đuối và gieo mình vào nó.

Chị giận dữ vì chị tưởng rằng em làm thế để khiến chị tổn thương, để lôi chị vào rắc rối. Để khiến mẹ yêu thương em hơn, thậm chí còn hơn cả trước. Để khiến mẹ ghét bỏ chị. Bởi vì nó sẽ là lỗi của chị, phải không? Chị đã bắt nạt em, và đáng lẽ chị phải để mắt trông nom em, ấy vậy nhưng chuyện này lại xảy ra trong lúc chị trông em.

Tôi lấy ngón chân vặn vòi nước và để cho cơ thể chìm xuống bồn; hai vai tôi ngập nước, cổ tôi, đầu tôi. Tôi lắng nghe những âm thanh của ngôi nhà, méo mó, bị bóp nghẹt, bị dòng nước biến thành xa lạ. Một tiếng nện đột ngột khiến tôi giật nẩy người bật lên giữa không trung lạnh ngắt. Tôi lắng nghe. Không có gì. Tôi chỉ tưởng tượng ra thôi.

Nhưng lúc chuồi người xuống trở lại, tôi chắc chắn tôi đã nghe thấy tiếng cọt kẹt trên cầu thang, tiếng bước chân, chậm, và đều nhịp, dọc hành lang. Tôi ngồi bật dậy, túm chặt thành bồn tắm. Một tiếng cọt kẹt nữa. Một tay nắm cửa đang xoay.

“Lena?” tôi gọi to, giọng tôi có vẻ trẻ con, cao và mảnh. “Lena, cháu đấy à?”

Đáp lại tôi là sự im lặng rung lên trong tai, và trong sự im lặng đó, tôi tưởng như đã nghe thấy các giọng nói.

Giọng của chị. Một cuộc điện thoại khác của chị, cuộc điện thoại đầu tiên. Cuộc điện thoại đầu tiên sau khi chúng ta cãi nhau hôm thức canh, sau buổi tối chị hỏi em câu hỏi khủng khiếp đó. Không lâu sau đó - một tuần, có lẽ là hai - chị đã gọi giữa đêm khuya và để lại cho em một lời nhắn. Chị đang khóc, các câu chữ líu nhíu, giọng chị gần như không sao nghe nổi. Chị bảo em chị định quay về Beckford, chị định gặp một người bạn cũ. Chỉ cần nói chuyện với một người nào đó, và em thì lại chẳng có tác dụng gì. Lúc đó em đã không nghĩ ngợi gì, em đã không thèm quan tâm.

Chỉ có điều giờ đây em đã hiểu, và em run lên bất chấp dòng nước ấm áp. Suốt thời gian này, em vẫn đổ lỗi cho chị, nhưng đáng lẽ ra phải ngược lại mới đúng. Chị đã quay về để gặp một người bạn cũ. Chị đã tìm kiếm sự an ủi vì em đã ghét bỏ chị, vì em không chịu nói chuyện với chị. Và chị đã tìm đến với anh ta. Em đã phụ lòng chị, và em vẫn không thôi phụ lòng chị. Em ngồi dậy, hai cánh tay ôm chặt hai đầu gối, những con sóng sầu thương không ngừng kéo tới: em đã phụ lòng chị, em đã khiến chị tổn thương, và điều khiến em khổ sở nhất là chị không bao giờ biết tại sao. Chị đã mất cả đời cố gắng tìm hiểu lý do em thù ghét chị đến mức đó, và tất cả những gì em phải làm là nói cho chị biết. Tất cả những gì em phải làm là trả lời khi chị gọi điện. Và giờ thì đã quá muộn rồi.

Lại thêm một tiếng động nữa, to hơn - tiếng cọt kẹt, tiếng loạt soạt, không phải do tôi tưởng tượng ra. Có ai đó đang ở trong nhà. Tôi đẩy người rời khỏi bồn tắm và âm thầm hết sức mặc quần áo vào. Là Lena, tôi tự nhủ. Đúng vậy. Là Lena đấy. Tôi rón rén đi qua khắp các phòng tầng trên, nhưng không ai ở trên này hết, và từ mọi tấm gương, khuôn mặt kinh hoàng của tôi giễu nhại tôi. Không phải Lena. Không phải Lena.

Hẳn phải là nó rồi, nhưng con bé ở đâu được nhỉ? Con bé sẽ ở trong bếp, con bé chắc đang đói - tôi sẽ xuống dưới tầng và con bé thể nào cũng ở đó vục đầu vào trong tủ lạnh. Tôi nhón chân xuống cầu thang, băng qua sảnh, đi qua cửa phòng khách. Và kia, qua khóe mắt, tôi nhìn thấy nó. Một cái bóng. Một hình dáng. Ai đó đang ngồi trên ghế cửa sổ.

Erin

Điều gì cũng là có thể. Thấy tiếng vó khua thì nghĩ tới ngựa nhưng cũng đừng quên còn có thể có ngựa vằn. Chớ khinh suất. Bởi vậy nên, trong lúc Sean dẫn Callie xem xét hiện trường ở chỗ của Henderson, tôi được phái đi nói chuyện với Louise Whittaker về “vụ chạm trán” giữa bà ta và Lena ngay trước khi Lena biến mất.

Khi tôi đến nhà Whittaker, Josh ra mở cửa, như nó vẫn luôn làm vậy. Và, cũng như thường lệ mỗi lần thấy tôi, nó có vẻ cảnh giác. “Có chuyện gì vậy ạ?” nó hỏi. “Cô chú đã tìm thấy Lena chưa?”

Tôi lắc đầu. “Vẫn chưa đâu. Nhưng đừng lo…”

Nó quay gót, vai sụm xuống. Tôi theo nó vào trong nhà. Đến dưới chân cầu thang, nó quay lại đối diện với tôi. “Có phải tại mẹ cháu nên chị ấy phải chạy trốn không?” nó hỏi, gò má hơi ửng lên.

“Sao cháu lại hỏi thế, Josh?”

“Mẹ cháu đã khiến chị ấy buồn,” nó chua chát nói. “Giờ khi mẹ Lena không còn nữa, mẹ cháu lại đổ hết lỗi cho Lena. Ngớ ngẩn thật. Cháu cũng có lỗi y như chị ấy vậy, nhưng mẹ cháu cứ đổ hết mọi tội lỗi lên đầu chị ấy. Và giờ Lena đã đi mất rồi, nó nói, cao giọng hơn. “Chị ấy đi mất rồi.”

“Con đang nói chuyện với ai đấy, Josh?” Louise hỏi vọng từ tầng trên. Con trai bà ta phớt lờ mẹ, vậy nên tôi đành đáp lời. “Tôi đây, bà Whittaker. Cảnh sát điều tra Morgan. Tôi lên được chứ?”

Louise đang mặc bộ đồ thể thao màu xám đã cũ. Tóc bà ta được bới ra sau, mặt không chút thần sắc. “Nó đang giận tôi,” bà ta nói thay lời chào hỏi. “Nó đổ lỗi cho tôi vì Lena bỏ đi. Thằng bé nghĩ đó là lỗi của tôi.” Tôi theo bà ta đi dọc chiếu nghỉ. “Thằng bé đổ lỗi cho tôi, tôi đổ lỗi cho Nel, tôi đổ lỗi cho Lena, cứ lẩn quẩn thế.” Tôi dừng lại ở ngưỡng cửa phòng ngủ. Căn phòng gần như trống hoác, giường đã bị lột sạch, tủ quần áo trống trơn. Những bức tường màu tím nhạt nham nhở vết keo Blutack bị lột vội. Louise mỉm cười mệt mỏi. “Cô cứ vào đi. Tôi sắp xong rồi.” Bà ta quỳ xuống, quay trở lại với công việc chắc hẳn đã bị tôi cắt ngang lúc nãy, xếp sách vào các hộp các tông. Tôi ngồi xổm xuống bên cạnh định giúp bà ta, nhưng tôi còn chưa kịp nhấc cuốn sách đầu tiên lên, bà ta đã kiên quyết đặt một bàn tay lên cánh tay tôi. “Không, cảm ơn cô. Tôi muốn tự mình làm hơn.” Tôi đứng dậy. “Tôi không có ý thô lỗ đâu,” bà ta nói, “tôi chỉ không muốn người khác chạm vào đồ đạc của con bé. Ngốc thật, đúng không?” bà ta nói, ngước lên nhìn tôi, mắt rực sáng. “Tôi chỉ muốn con bé chạm vào chúng. Tôi muốn thứ gì đó còn lại của con bé, trên bìa sách, trên đệm giường, trên lược của con bé…” Bà ta dừng lại và hít một hơi thở sâu. “Có vẻ như tôi chẳng mấy tiến bộ. Tiến về phía trước, vượt qua những chuyện trong quá khứ, chẳng có tiến triển gì…”

“Tôi không nghĩ là có bất kỳ ai trông chờ bà làm thế,” tôi nói khẽ. “Vẫn…”

“Vẫn chưa? Điều đó có nghĩa là đến một thời điểm nào đó tôi sẽ không còn cảm giác này nữa. Nhưng có vẻ như mọi người đã không nhận ra một điều, rằng tôi không muốn mình không còn cảm giác này. Sao tôi có thể không còn cảm giác này chứ? Nỗi buồn của tôi có vẻ phù hợp. Nó… mang trọng lượng phù hợp, đè ép tôi vừa đủ độ. Cơn giận của tôi là trong sạch, nó nâng đỡ tôi. Chậc…” Bà ta thở dài. “Chỉ có điều bây giờ con trai tôi cho rằng tôi phải chịu trách nhiệm vì Lena đã mất tích. Có những khi tôi không biết liệu thằng bé có cho rằng tôi đã đẩy Nel Abbott ngã khỏi vách đá đó không.” Bà ta khịt mũi. “Dù sao đi nữa, thằng bé cũng quy trách nhiệm cho tôi vì Lena đã bị bỏ lại trong tình cảnh đó. Mồ côi mẹ. Chỉ có một mình.”

Tôi đứng giữa phòng, thận trọng khoanh hai tay lại, cố không chạm vào bất cứ thứ gì. Như thể tôi đang ở hiện trường phạm tội, như thể tôi không muốn làm hư hỏng bất cứ cái gì.

“Cô bé mồ côi mẹ,” tôi nói, “nhưng có phải con bé không có bố không? Bà có thật lòng tin rằng Lena không biết bố mình là ai? Bà có biết liệu con bé và Katie có bao giờ nói đến chuyện này không?”

Louise lắc đầu. “Tôi khá chắc chắn là nó không biết đâu. Nel vẫn luôn bảo thế mà. Tôi thấy thế thật kỳ quặc. Cũng như rất nhiều quan điểm nuôi con khác của Nel, không chỉ kỳ quặc mà còn vô trách nhiệm nữa - ý tôi là, nếu có vấn đề gì về gene thì sao, bệnh tật hay gì đó đại loại thế? Dù sao đi nữa, đối với Lena, chuyện đó cũng có vẻ không công bằng, thậm chí còn chẳng cho đứa trẻ quyền được biết về bố nó. Khi bị dồn ép quá - và tôi đã dồn ép cô ta, hồi hai chúng tôi còn giao hảo với nhau - cô ta bảo nó là chuyện tình một đêm thôi, ai đó cô ta đã gặp hồi mới chuyển tới New York. Cô ta khăng khăng bảo không biết anh ta họ gì. Sau này nghĩ lại, tôi tin chắc đấy là lời nói dối, vì tôi đã từng nhìn thấy một bức ảnh chụp lúc Nel đang chuyển vào căn hộ đầu tiên của cô ta Brooklyn, chiếc áo phông cô ta mặc căng phồng trên cái bụng bầu.”

Louise thôi chồng sách lên thành đống. Bà ta lại lắc đầu. “Vậy nên, xét trên phương diện đó, Josh đã đúng. Con bé chỉ có một mình thật. Chẳng có họ hàng nào ngoài bà dì. Hoặc tôi không hề nghe nhắc đến người họ hàng nào. Còn về chuyện bạn trai…” Bà ta mỉm cười buồn bã. “Nel có lần bảo tôi rằng cô ta chỉ ngủ với cánh đàn ông đã có vợ, vì họ kín đáo, không đòi hỏi và để mặc cho cô ta muốn sống thế nào thì tùy. Các vụ phiêu lưu tình ái của cô ta đều được giữ bí mật. Tôi không hoài nghi việc cô ta cũng có đàn ông, nhưng cô ta không công khai những chuyện kiểu thế. Bất cứ khi nào ta nhìn thấy cô ta, cô ta đều ở một mình. Một mình hoặc ở cùng con gái.” Bà ta khẽ thở dài. “Người đàn ông duy nhất tôi từng nhìn thấy Lena để lộ chút cảm tình mơ hồ nào đó chính là Sean.” Bà ta thoáng đổi sắc khi nhắc đến tên anh ta, quay đầu tránh khỏi tôi, như thể vừa nói ra một điều bà ta đáng lẽ không nên nói.

“Sean Townsend? Thật không?” Bà ta không đáp. “Louise?” Bà ta đứng dậy, lấy thêm một chồng sách từ trên giá. “Louise, bà vừa nói gì vậy? Rằng có chuyện gì đó… không phù hợp giữa Sean và Lena?”

“Chúa ôi, không!” Bà ta bật cười giòn tan. “Không phải Lena.”

“Không phải Lena? Vậy là… Nel? Ý bà là có chuyện gì đó giữa anh ta và Nel Abbott?”

Louise bặm môi lại quay mặt đi nên tôi không thể đọc được nét mặt bà ta.

“Bởi vì, bà biết đấy, chuyện đó sẽ vô cùng không thích hợp. Điều tra cái chết đáng ngờ của một người anh ta từng có quan hệ, chuyện đó sẽ…”

Chuyện đó sẽ làm sao? Không chuyên nghiệp, không đúng nguyên tắc, căn nguyên dẫn đến cách xử lý qua loa? Anh ta không như thế. Không đời nào có chuyện anh ta đã làm vậy, không đời nào có chuyện anh ta có thể giấu giếm tôi chuyện đó. Tôi thể nào cũng sẽ nhìn thấy gì đó, để ý thấy gì đó chứ, phải không? Và rồi tôi nhớ đến dáng vẻ anh ta vào lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh ta, đang đứng trên bờ vũng sông và dưới chân là Nel Abbott, đầu cúi xuống như thể anh ta đang cầu nguyện cho cô ta. Đôi mắt đẫm lệ của anh ta, hai bàn tay run rẩy, thái độ lơ đãng, vẻ buồn bã của anh ta. Nhưng đó là bởi vì anh ta nghĩ tới mẹ anh ta, chắc chắn là vậy nhỉ?

Louise tiếp tục lặng lẽ đóng sách vào thùng.

“Nghe tôi này,” tôi nói, cao giọng hơn để thu hút trọn vẹn sự chú ý của bà ta. “Nếu bà biết rằng có một mối quan hệ như thế nào đó giữa Sean và Nel, vậy thì…”

“Tôi có nói thế đâu,” bà ta nói, nhìn tôi bằng ánh mắt không chút biểu cảm. “Tôi chẳng nói gì như thế cả. Sean Townsend là người tử tế.” Bà ta đứng dậy. “Này, tôi còn nhiều việc phải làm lắm, điều tra viên. Có lẽ đã đến lúc cô đi khỏi đây rồi.”

Sean

Cửa hậu vẫn để mở, các điều tra viên hiện trường nói. Không chỉ không khóa, mà còn mở hẳn. Mùi tanh xộc vào mũi khi tôi vào bên trong. Callie Buchan đã có mặt sẵn ở đó, nói chuyện với nhóm điều tra viên hiện trường, cô hỏi tôi câu gì đó, nhưng tôi không nghe rõ vì tôi đang căng tai nghe một âm thanh khác - một con vật, đang rên rỉ.

“Suỵt,” tôi nói. “Nghe này.”

“Họ đã kiểm tra toàn bộ ngôi nhà rồi, thưa ngài.” Callie nói. “Không có ai ở đây đâu.”

“Anh ta có nuôi chó không?” tôi hỏi cô. Cô ngây người nhìn tôi. “Có chó, có thú cưng trong nhà không? Có dấu hiệu nào cho thấy có một con gì không?”

“Không, không có dấu hiệu gì hết, thanh tra. Sao anh lại hỏi thế?”

Tôi lắng nghe lần nữa, nhưng âm thanh đã tắt và tôi bị bỏ lại với cảm giác déjà vu: trước đây tôi đã nhìn thấy cảnh này, trước đây tôi đã làm tất cả những điều này - tôi đã nghe thấy một con chó rên rỉ, tôi đi xuyên qua một phòng bếp máu me để vào trong màn mưa.

Chỉ có điều giờ thì trời không mưa, và không có con chó nào cả.

Callie đang nhìn tôi chăm chăm. “Thanh tra? Có một thứ ở kia.” Cô chỉ về phía một thứ trên sàn, một chiếc kéo nhà bếp nằm giữa một vệt máu. “Không chỉ là một vết cắt nông, phải không? Ý tôi là, có lẽ không phải vết cắt trúng động mạch, nhưng có vẻ cũng không được dễ chịu.”

“Bệnh viện thì sao?”

“Cho đến giờ vẫn chưa có gì, không có dấu vết nào của ai trong hai người họ.” Điện thoại của cô đổ chuông và cô ra bên ngoài để nghe.

Tôi vẫn đứng im như phỗng trong bếp trong lúc hai điều tra viên hiện trường im lặng làm việc xung quanh. Tôi dõi nhìn một trong hai người họ cầm nhíp gắp một sợi tóc dài màu vàng vương trên mép bàn. Tôi đột nhiên thấy cơn buồn nôn cuộn lên, nước bọt tứa đầy trong miệng. Tôi không thể tin nổi: tôi đã từng chứng kiến những cảnh tượng còn tệ hơn thế này nhiều - tệ hơn rất nhiều - mà vẫn giữ được điềm tĩnh. Không phải sao? Không phải tôi đã đi qua những căn bếp còn máu me bê bết hơn chỗ này nhiều?

Tôi áp lòng bàn tay lên cổ tay và nhận ra Callie lại đang nói chuyện với tôi, đầu cô thò vào qua khung cửa. “Tôi nói chuyện với anh một lát được chứ, thanh tra?” Tôi theo cô ra ngoài trời và trong lúc tôi cởi lớp nylon bảo vệ giày ra, cô cập nhật cho tôi những tin tức mới nhất.

“Cảnh sát giao thông đã tóm được xe của Henderson,” cô nói. “Ý tôi là, không phải tóm được, nhưng họ đã thấy chiếc Vauxhall đỏ của anh ta xuất hiện hai lần trên camera.” Cô nhìn xuống cuốn sổ ghi chép. “Vấn đề là, có chút khó hiểu vì sau khi bị phát hiện lần đầu, ngay sau ba giờ sáng nay, anh ta đang trên đường A68 tiến về phía Bắc hướng Edinburgh, nhưng rồi hai tiếng sau, lúc năm giờ mười lăm, anh ta lại đang lái xe về phía Nam trên đường A1, ngay bên ngoài Eyemouth. Vậy nên có thể anh ta… đã bỏ gì đó ra khỏi xe?” Loại bỏ gì đó, ý cô là thế. Gì đó hoặc ai đó. “Hoặc anh ta đang cố khiến chúng ta rối trí?”

“Hoặc anh ta đã thay đổi suy nghĩ về đích trốn chạy hợp lý nhất,” tôi nói. “Hoặc anh ta đang hoảng loạn.” Cô gật đầu. “Chạy lung tung như một con gà không đầu.”

Tôi không thích ý tưởng đó, tôi không muốn anh ta - hay bất kỳ ai khác - không đầu. Tôi muốn anh ta bình tĩnh. “Có thể nhìn ra xem có ai khác ở trong xe hay không, có ai trên ghế hành khách không?” tôi hỏi cô.

Cô lắc đầu, môi bặm lại. “Không. Tất nhiên…” Cô bỏ dở câu nói. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là không có ai khác ở trong xe. Nó chỉ có nghĩa là người khác đó không phải đang ngồi thẳng.

Một lần nữa, lại cái cảm giác kỳ quái rằng tôi đã từng có mặt ở đây, một mẩu ký ức dường như không phải của tôi. Nó có thể là của ai khác chứ? Nó hẳn phải là một phần của một câu chuyện nào đó, được ai đó tôi không nhớ kể lại cho tôi. Một phụ nữ đang nằm mọp ở ghế sau xe ô tô, một phụ nữ bị ốm, đang co giật, đang chảy dãi. Không có gì nhiều để thành một câu chuyện - tôi không thể nhớ phần còn lại của nó, tôi chỉ biết rằng hễ cứ nghĩ đến nó là dạ dày tôi lại nhộn nhạo. Tôi gạt chuyện đó sang một bên.

“Newcastle có vẻ là một điểm đến hiển nhiên.” Callie nói. “Ý tôi là, nếu anh ta đang chạy trốn. Máy bay, tàu, phà - anh ta có thể đi bất cứ đâu bằng cách nào tùy ý. Nhưng lạ ở chỗ kể từ sau hình ảnh lúc năm giờ sáng đó, họ chẳng thu được gì nữa, vậy nên hoặc là anh ta đã dừng lại, hoặc anh ta đã rời khỏi đường cái. Có lẽ anh ta đã chọn những con đường nhỏ hơn, thậm chí là đường ven biển…”

“Không phải còn cô bạn gái à?” tôi hỏi, cắt đứt mạch nói chuyện của cô. “Một người phụ nữ ở Edinburgh?”

“Cô vợ chưa cưới nổi tiếng,” Callie nói, nhướng mày lên. “Chậc, chẳng cần anh phải nhắc đâu. Cô ta - Tracey McBride, tên cô ta đấy - đã được đón đi trình diện sáng nay. Cảnh sát đang đưa cô ta đến Beckford nói chuyện. Nhưng, chỉ nói để anh biết trước thôi, Cô Tracey của chúng ta khẳng định rằng cô ta đã không gặp Mark Henderson một thời gian rồi. Thật ra là gần một năm.”

“Cái gì? Tôi tưởng họ vừa đi nghỉ cùng nhau?”

“Henderson đã bảo thế lúc nói chuyện với điều tra viên Morgan, nhưng theo Tracey, cô ta đã không thấy bóng dáng anh ta kể từ khi anh ta cắt đứt mọi chuyện hồi mùa thu năm ngoái. Cô ta bảo anh ta đột nhiên đá cô ta, bảo cô ta rằng anh ta đang chết mê chết mệt một phụ nữ khác.”

Tracey không biết người phụ nữ đó là ai hay cô gái ấy làm gì. “Tôi cũng chẳng muốn biết,” cô xẵng giọng nói với tôi. Cô đang ngồi ở văn phòng phía sau đồn cảnh sát, một tiếng đồng hồ sau đó, nhấm nháp cốc trà. “Tôi đã… Tôi đã, khá suy sụp, thật ra là thế. Mới vừa phút trước tôi còn đang mua váy cưới, thế mà ngay phút sau anh ta lại bảo tôi anh ta không thể đi đến cuối cùng được vì anh ta đã gặp tình yêu của đời mình.” Cô cười buồn với tôi, cào tay vào mái tóc đen cắt ngắn. “Sau đó, tôi xóa anh ta ra khỏi bộ nhớ thôi. Xóa số điện thoại của anh ta, hủy kết bạn với anh ta, tất tật mọi thứ. Phiền anh nói cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra với anh ta được chứ? Chẳng ai chịu nói cho tôi biết đang có chuyện chết tiệt gì hết.”

Tôi lắc đầu. “Tôi xin lỗi về chuyện đó, nhưng hiện thời tôi chẳng thể nói gì nhiều với cô được. Tuy nhiên, chúng tôi không tin là anh ta đã bị tổn hại gì. Chúng tôi chỉ cần tìm ra anh ta, chúng tôi cần trao đổi với anh ta một chuyện. Cô không biết anh ta có thể đi đâu à? Nếu anh ta cần trốn tránh? Bố mẹ, bạn bè trong vùng…?”

Cô cau mày. “Không phải chuyện này liên quan đến người phụ nữ đã chết à? Tôi đọc báo thấy hồi một hai tuần trước lại có thêm một người nữa. Ý tôi là… anh ta không phải… đó không phải người phụ nữ anh ta đang hẹn hò à?”

“Không, không đâu. Nó chẳng liên quan gì đến chuyện đó hết.”

“Ồ, được rồi.” Cô có vẻ nhẹ nhõm. “Ý tôi là, cô ta hơi già so với anh ta, nhỉ?”

“Tại sao cô lại nói thế? Anh ta thích phụ nữ trẻ hơn à?”

Tracey có vẻ bối rối. “Không, ý tôi là… anh nói trẻ hơn nghĩa là sao? Người phụ nữ đó, thế nào nhỉ, tầm bốn mươi tuổi, phải không? Mark còn chưa tới ba mươi, vậy nên…”

“Đúng vậy.”

“Anh không thể nói cho tôi biết đang có chuyện gì thật à?” cô hỏi.

“Mark có từng cư xử thô bạo với cô không, anh ta có bao giờ mất bình tĩnh, bất kỳ chuyện gì kiểu thế?”

“Sao cơ? Chúa ôi, không. Không bao giờ.” Cô ngả người ra sau về phía lưng ghế, cau mày lại. “Có ai buộc tội gì anh ta à? Vì anh ta không phải kiểu người đó. Anh ta ích kỷ, không nghi ngờ gì về chuyện đó, nhưng anh ta không phải người xấu, không phải theo nghĩa đó.”

Tôi tiễn cô ra xe, nơi mấy cảnh sát đang đợi để chở cô về nhà, và thầm hỏi không biết Mark Henderson là người xấu theo nghĩa nào, thầm hỏi không biết liệu anh ta có thể thuyết phục được chính bản thân rằng tình yêu đã xá tội cho anh ta.

“Anh đã hỏi anh ta có thể đi đâu.” Tracey nói với tôi khi chúng tôi ra đến xe. “Rất khó mà nói được khi không biết tình huống cụ thể, nhưng tôi có thể nghĩ tới một chỗ. Chúng tôi - chậc, bố tôi - có một chỗ ngoài bờ biển. Mark và tôi hay đến đó nghỉ cuối tuần. Nó khá biệt lập, xung quanh không có ai khác. Mark vẫn luôn bảo rằng đó là một chỗ ẩn trốn hoàn hảo.”

“Không có ai ở đấy chứ, chỗ cô bảo ấy?”

“Nó không thường xuyên có người ở. Chúng tôi vẫn để một chiếc chìa khóa ở phía sau nhà bên dưới một chậu cây, nhưng dạo đầu năm nay chúng tôi phát hiện ra ai đó đã sử dụng nó dù không được cho phép - ca cốc bị bỏ lại hay rác trong thùng rác hay sao đó - vậy nên chúng tôi không làm thế nữa.”

“Lần cuối cùng chuyện đó xảy ra là khi nào? Lần cuối cùng ai đó đã sử dụng trái phép ngôi nhà là khi nào?”

Cô cau mày, “Ôi, lạy Chúa. Một thời gian tương đối rồi. Tháng Tư, có lẽ vậy? Phải, tháng Tư. Dịp lễ Phục sinh.”

“Và nơi này nằm chính xác ở đâu?”

“Howick,” cô nói. “Nó là một ngôi làng bé xíu, chẳng có gì nhiều ở đó. Ngay phía trên bờ biển đi từ Craster.”

Lena

Ông ta xin lỗi lúc thả tôi ra khỏi cốp xe. “Thầy xin lỗi, Lena, nhưng em nghĩ xem thầy còn biết làm gì khác chứ?” Tôi cười phá lên nhưng ông ta bảo tôi câm miệng, tay ông ta siết chặt lại thành nắm đấm, và tôi nghĩ ông ta sắp đánh tôi lần nữa, vậy nên tôi làm theo lời ông ta.

Chúng tôi đang ở trong một ngôi nhà ven biển - chỉ có một ngôi nhà, cô độc, ngay bên trên vách đá, với một khu vườn và một bức tường bao cùng một bộ bàn ghế chân cao thường thấy. Ngôi nhà có vẻ hoàn toàn biệt lập, xung quanh không có một ai. Từ chỗ đang đứng, tôi không nhìn thấy có bất cứ công trình xây dựng nào ở gần đây, chỉ có một con đường mòn, thậm chí còn chẳng phải một con đường hẳn hoi. Tôi cũng không nghe thấy âm thanh gì, không có tiếng xe cộ qua lại, không có gì giống như thế, chỉ có tiếng mòng biển và tiếng sóng vỗ vào bãi đá.

“Kêu la cũng chẳng ích gì đâu,” ông ta nói, như thể đọc được suy nghĩ của tôi. Rồi ông ta nắm cánh tay tôi dẫn tôi tới chỗ bàn, đưa cho tôi một cái khăn giấy để lau miệng.

“Em sẽ ổn thôi,” ông ta nói.

“Thật thế à?” tôi hỏi, nhưng ông ta chỉ tránh mắt đi chỗ khác.

Suốt một hồi lâu, chúng tôi chỉ ngồi đó, bên cạnh nhau, bàn tay ông ta vẫn để trên cẳng tay tôi, cái nắm tay của ông ta nới lỏng dần khi hơi thở ông ta chậm lại. Tôi không giằng ra. Giờ có vùng vẫy cũng chẳng ích gì. Vẫn chưa. Tôi đang sợ, hai chân tôi đang run như điên dưới gầm bàn và tôi không cách nào dừng chúng lại được. Nhưng thật ra tôi đang cảm giác như chuyện này cũng tốt, cũng hữu ích. Tôi cảm thấy mạnh mẽ, sự mạnh mẽ tôi từng có khi ông ta tìm thấy tôi trong nhà và chúng tôi ẩu đả. Phải, được rồi, ông ta đã thắng, nhưng chỉ bởi vì tôi đã không lập tức xuống tay tàn nhẫn, chỉ bởi vì tôi đã không chắc chắn mình đang đối mặt với cái gì. Đó mới chỉ là hiệp đầu tiên thôi. Nếu ông ta cho rằng tôi đã thối chí, vậy thì ông ta nhầm to rồi.

Nếu ông ta biết tôi đang có cảm giác gì, tôi đang trải qua những gì, tôi không nghĩ ông ta còn bám chặt lấy cánh tay tôi nữa. Tôi nghĩ ông ta sẽ chạy trối chết cho xem.

Tôi cắn mạnh môi dưới. Tôi có thể nếm thấy vị máu tươi trên lưỡi và tôi thích nó, nó mang lại cảm giác thật dễ chịu. Tôi thích vị tanh tanh đó, tôi thích cảm giác máu vương trong miệng, một thứ gì đó để nhổ vào ông ta. Khi nào đến lúc. Tôi có rất nhiều điều cần hỏi ông ta, nhưng tôi không biết bắt đầu từ đâu nên chỉ nói, “Sao ông lại giữ nó?” Tôi phải cố lắm mới giữ cho giọng mình bình tĩnh và không để nó vỡ ra hay rung lên bần bật hay run rẩy hay để lộ cho ông ta thấy tôi đang sợ hãi. “Tại sao ông lại giữ cái vòng tay của bà ấy? Tại sao không ném đi cho xong? Hay để yên nó trên cổ tay bà ấy? Tại sao lại lấy nó đi?”

Ông ta thả tay tôi ra. Ông ta không nhìn tôi, chỉ nhìn chăm chăm ra biển. “Thầy không biết,” ông ta mệt mỏi nói. “Thành thực mà nói, thầy không biết tại sao lại lấy nó nữa. Một sự bảo hiểm, có lẽ vậy. Tóm lấy khúc củi giữa dòng. Nắm lấy cái gì đó để sau này uy hiếp một người khác…” Ông ta đột nhiên im bặt và nhắm mắt lại. Tôi không hiểu ông ta đang nói gì, nhưng tôi có cảm giác, giống như tôi đã mở ra một thứ gì đó, một cơ hội. Tôi khẽ dịch người tránh khỏi ông ta. Rồi khẽ dịch xa thêm chút nữa. Ông ta lại mở mắt, nhưng không làm gì, chỉ dán mắt vào dòng nước, mặt vô cảm. Ông ta có vẻ kiệt sức. Nản chí. Như thể ông ta chẳng còn lại gì. Tôi lùi ra phía sau trên ghế băng. Tôi có thể chạy đi. Lúc cần kíp tôi có thể nhanh ra trò. Tôi đánh mắt ra sau liếc nhìn con đường nằm phía sau nhà. Tôi sẽ có cơ hội tốt để chạy thoát khỏi ông ta nếu cứ thẳng tiến ngang qua con đường mòn, vượt qua bức tường đá và băng sang phía bên kia cánh đồng. Nếu tôi làm thế, ông ta sẽ không thể chạy ô tô bám theo, và tôi sẽ có cơ hội.

Tôi đã không làm thế. Mặc dù tôi biết nó có lẽ là cơ hội cuối cùng tôi có được, tôi vẫn ở nguyên tại chỗ. Chuyện đã đến nước này, tôi nghĩ, thì thà chết mà biết được chuyện gì đã xảy ra với mẹ tôi còn hơn là sống mà không bao giờ biết được. Tôi không nghĩ là mình chịu đựng nổi điều đó.

Tôi đứng dậy. Ông ta không nhúc nhích, chỉ nhìn theo trong lúc tôi đi vòng qua bàn và ngồi xuống đối diện ông ta, buộc ông ta phải nhìn tôi.

“Ông có biết tôi vẫn đinh ninh là bà ấy đã bỏ tôi lại không? Mẹ tôi ấy. Khi họ tìm thấy bà ấy và họ đến thông báo cho tôi, tôi cứ tưởng đó là một sự lựa chọn. Tôi cứ tưởng bà ấy đã chọn cái chết, vì bà ấy cảm thấy có lỗi bởi chuyện đã xảy ra với Katie hoặc vì bà ấy thấy xấu hổ về chuyện đó, hoặc… Tôi không biết nữa. Chỉ bởi vì dòng nước có sức hút mạnh mẽ với bà ấy hơn tôi nhiều.”

Ông ta không nói gì.

“Tôi đã tin như thế!” Tôi hét lên to hết sức và ông ta giật mình. “Tôi đã tin rằng bà ấy bỏ rơi tôi! Ông có hiểu cảm giác ấy là như thế nào không? Và giờ thì hóa ra không phải thế. Bà ấy không lựa chọn gì hết. Ông đã cướp mất bà ấy. Ông đã cướp bà ấy khỏi tôi, y như ông đã cướp mất Katie.”

Ông ta mỉm cười với tôi. Tôi vẫn nhớ chúng tôi thường nghĩ ông ta thật điển trai, và điều đó khiến da dày tôi nhộn nhạo. “Thầy không cướp Katie khỏi em.” ông ta nói. “Katie không phải của em, Lena. Cô ấy là của thầy.”

Tôi muốn hét lên với ông ta, cào vào mặt ông ta. Nó không phải của ông! Không phải! Không phải! Tôi cắm móng tay mạnh hết sức vào trong hai bàn tay, tôi cắn môi và lại nếm thấy vị máu, lắng nghe ông ta tự biện hộ.

“Thầy không bao giờ cho rằng mình lại thuộc kiểu người sẽ sa ngã vì một cô bé. Không bao giờ. Thầy vẫn cho rằng những kẻ như thế thật lố bịch. Những kẻ kém cỏi già nua u sầu chẳng thể kiếm được một người phụ nữ cùng tuổi.”

Tôi bật cười. “Chính xác,” tôi nói. “Ông nghĩ đúng đấy.”

“Không, không.” Ông ta lắc đầu. “Đó không phải sự thật. Không phải. Nhìn thầy mà xem. Thầy chưa bao giờ gặp bất kỳ khó khăn nào trong việc thu hút phụ nữ. Lúc nào họ cũng chủ động đến với thầy. Giờ thì em lắc đầu, nhưng em cũng đã thấy rồi mà. Lạy Chúa, chính em cũng làm thế đấy thôi.”

“Tôi không thế.”

“Lena…”

“Ông thật lòng cho rằng tôi muốn ông à? Ông bị lừa rồi. Đó là một trò chơi, đó là…” Tôi không nói nữa. Làm sao có thể giải thích một chuyện như thế với một gã đàn ông giống như ông ta chứ? Làm sao giải thích được chuyện đó chẳng liên quan gì đến ông ta và hết thảy chỉ là chuyện của riêng ta thôi? Nó - dù sao đi nữa, với tôi là thế là chuyện giữa tôi và Katie và những điều chúng tôi có thể làm cùng nhau. Những người mà chúng tôi chơi trò đó có thể đổi lẫn cho nhau được. Họ chẳng có gì quan trọng hết.

“Ông có biết nếu ông nhìn nhận mọi chuyện theo cách của tôi thì sẽ như thế nào không?” tôi hỏi ông ta. “Ý tôi là, tôi biết ông cho rằng ông quyến rũ hay gì gì đó, nhưng ông không hề biết một người như tôi thì sẽ thế nào. Ông có biết tôi dễ dàng đến mức nào để khiến mọi người làm theo ý tôi, để khiến họ mất tự chủ? Tất cả những gì tôi phải làm là nhìn họ theo một cách nào đó, hoặc đứng gần họ, hoặc chọc ngón tay vào trong miệng mà mút và tôi có thể thấy họ đỏ bừng mặt mũi hoặc cương cứng hoặc đại loại thế. Đó chính là chuyện tôi làm với ông đấy, đồ đần ạ. Tôi đã đùa giỡn ông. Tôi không muốn ông.”

Ông ta bật cười giễu cợt, tiếng cười khẽ đầy hoài nghi. “Phải, được rồi,” ông ta nói. “Nếu em đã nói thế, Lena. Vậy thì em đã muốn gì? Khi em đe dọa tố cáo chúng tôi, khi em hét vang lên khiến cho mẹ em có thể nghe thấy - em đã muốn gì?”

“Tôi muốn… Tôi muốn…”

Tôi không thể nói với ông ta tôi muốn gì, bởi vì điều tôi muốn là mọi thứ quay trở lại đúng theo cách trước đây. Tôi muốn chúng tôi quay lại cái thời Katie và tôi lúc nào cũng có nhau, khi ngày nào giờ nào chúng tôi cũng dành cho nhau, khi chúng tôi bơi trong dòng sông và không ai nhìn chúng tôi và cơ thể chúng tôi thuộc về chính chúng tôi. Tôi muốn quay trở lại cái thời chúng tôi chưa khơi ra trò chơi đó, trước khi chúng tôi nhận ra chúng tôi có thể làm gì. Nhưng đó chỉ là điều tôi muốn. Katie thì không. Katie thích được nhìn ngắm. Đối với Katie, trò chơi không đơn thuần là trò chơi, nó còn hơn thế nữa. Ngay từ ban đầu, khi tôi phát hiện ra và chúng tôi tranh cãi về chuyện này, nó đã bảo, “Cậu không biết cảm giác đó là như thế nào đâu, Lena. Cậu có tưởng tượng được không? Khi có một người muốn cậu nhiều đến mức anh ta sẽ mạo hiểm tất cả vì cậu - thế đấy, tất cả mọi thứ. Công việc của anh ta, mối quan hệ của anh ta, tự do của anh ta. Cậu không hiểu được cảm giác đó là như thế nào đâu.”

Tôi có thể cảm thấy Henderson đang nhìn tôi, đợi tôi lên tiếng. Tôi muốn tìm ra được một cách nào đó để nói lên điều đấy, để cho ông ta thấy rõ nó không chỉ mê luyến ông ta mà còn mê luyến quyền năng nó áp đặt được lên ông ta. Tôi muốn có thể nói với ông ta điều đó, để xóa sổ cái vẻ mặt đó của ông ta đi, cái vẻ mặt hàm ý ông ta hiểu nó còn tôi thì không, không hẳn. Nhưng ngay lúc đó, tôi chẳng thể tìm ra được lời lẽ nào, và dù sao đi nữa, đó cũng không phải toàn bộ câu chuyện, bởi vì không ai có thể phủ nhận rằng nó đã yêu ông ta.

Cơn đau xuất hiện trong hốc mắt tôi, một cơn đau rát báo cho tôi biết tôi lại sắp khóc đến nơi, và tôi cụp mắt xuống nền nhà, không muốn ông ta nhìn thấy những giọt lệ trong mắt tôi, và tôi thấy nằm giữa lớp đất, ngay giữa hai bàn chân tôi, có một cái đinh. Nó là một cái đinh dài, phải tám phân là ít. Tôi khẽ dịch bàn chân để đè lên mũi đinh, rồi ấn xuống để nâng đầu kia lên.

“Em chỉ ghen thôi, Lena,” Henderson nói. “Sự thật là thế, phải không? Em lúc nào cũng vậy. Hẳn là em thấy ghen với cả hai chúng tôi, phải không? Với thầy, bởi vì cô ấy đã chọn thầy, và với cô ấy, vì thầy đã chọn cô ấy. Chẳng ai trong chúng tôi muốn em cả. Và bởi vậy em bắt chúng tôi phải trả giá. Em và mẹ em, hai người…”

Tôi để mặc cho ông ta nói, tôi để mặc cho ông ta phun ra những lời lẽ nhảm nhí lừa mình dối người, và tôi thậm chí còn chả buồn bận tâm đến chuyện ông ta đã sai lầm về tất cả như thế nào, bởi vì thứ duy nhất tôi có thể dồn sự tập trung vào là mũi cái đinh kia, lấy bàn chân bẩy nó lên. Tôi luồn tay xuống dưới bàn. Mark đã ngừng nói.

“Lẽ ra ông không bao giờ nên cặp với nó,” tôi nói. Tôi đang nhìn ra phía sau ông ta, qua vai ông ta, cố gắng đánh lạc hướng sự chú ý của ông ta. “Ông biết điều đó. Ông hẳn phải biết điều đó.”

“Cô ấy yêu thầy, và thầy cũng yêu cô ấy, toàn tâm toàn trí.”

“Ông là người lớn!” tôi nói, vẫn dán mắt vào khoảng không đằng sau ông ta, và nó đã có hiệu quả trong một giây, ông ta liếc qua vai và tôi hạ cánh tay luồn xuống giữa hai chân, duỗi hết các ngón tay ra. Món kim loại mát lạnh đã ở trong nắm tay tôi, và tôi vươn thẳng lưng, chuẩn bị sẵn sàng. “Ông có thật sự cho rằng chuyện ông có tình cảm thế nào với nó có gì quan trọng không? Ông là thầy giáo của nó. Ông gấp đôi tuổi nó. Ông là người lẽ ra phải làm điều đúng đắn.”

“Cô ấy yêu thầy,” ông ta nhắc lại, hèn hạ. Thảm hại.

“Nó quá trẻ so với ông,” tôi nói, nắm chặt cây đinh trong tay. “Nó quá tốt so với ông.”

Tôi lao về phía ông ta, nhưng không đủ nhanh. Lúc tôi đứng bật dậy, bàn tay tôi bị vướng vào gầm bàn, dù chỉ trong một giây. Mark lao bổ về phía tôi, tóm lấy cánh tay trái tôi, giật nó mạnh hết sức, lôi tôi chồm lên đến giữa bàn.

“Em đang làm gì vậy hả?” Ông ta bật dậy, vẫn tóm chặt tôi, và lôi tôi sang một bên, vặn cánh tay tôi ra đằng sau lưng. Tôi hét lên vì đau. “Em đang làm gì vậy hả?” ông ta hét lên, đẩy cánh tay tôi lên cao hơn, lấy ngón tay cạy mở nắm đấm của tôi. Ông ta tước cái đinh ra khỏi tay tôi và ấn tôi xuống bàn, bàn tay ông ta ở trong tóc tôi, cơ thể ông ta đè lên người tôi. Tôi cảm thấy mũi kim loại nhọn hoắt sượt qua cổ họng mình, trọng lượng của ông ta trên người tôi, giống y như cách nó hẳn đã cảm thấy ông ta khi họ ở bên nhau. Dịch chua trào lên cổ họng tôi và tôi nhổ nó ra, nói, “Nó quá tốt so với ông! Nó quá tốt so với ông!” Tôi nhắc đi nhắc lại câu ấy cho tới khi ông ta ép cho hơi thở tôi cạn kiệt.

Jules

Tiếng lách cách. Cách, xì. Cách, xì, rồi: “Ồ. Cô đây rồi. Tôi đã tự tiện vào trong, hy vọng cô không phiền.”

Người phụ nữ lớn tuổi - bà già tóc tím kẻ mắt đen, người tự xưng là bà đồng, người đã lê chân quanh thị trấn nhổ bước bọt và nguyền rủa mọi người, người tôi từng gặp ngay hôm trước, tranh cãi với Louise ở trước nhà - bà ta đang ngồi trên chỗ ngồi cạnh cửa sổ, đung đưa hai bắp chân sưng phồng.

“Tôi có phiền đấy!” tôi nói lên tiếng, cố không để lộ cho bà ta thấy tôi đang sợ, rằng tôi vẫn thật ngớ ngẩn, lố bịch - sợ bà ta. “Tôi thấy rất phiền đấy. Bà đang làm gì ở đây?” Lách cách và xì, lách cách và xì. Cái bật lửa - cái bật lửa bạc khắc các chữ cái đầu tên Libby - bà ta đang cầm nó trong tay. “Đó là… Bà lấy nó ở đâu vậy? Đó là bật lửa của Nel!” Bà ta lắc đầu. “Đúng vậy! Sao bà lại giữ nó? Bà đã từng vào trong ngôi nhà này, lấy trộm này nọ hả? Bà đã…”

Bà ta phẩy một bàn tay múp míp, lòe loẹt đồ nữ trang về phía tôi. “Ôi, bình tĩnh lại đi, được chứ?” Bà ta nở một nụ cười đầy răng nâu xỉn với tôi. “Ngồi xuống đi. Ngồi xuống đi, Julia.” Bà ta chỉ vào cái ghế bành trước mặt. “Ra đây ngồi với tôi.”

Tôi sửng sốt đến độ cứ thế mà tuân theo. Tôi sang phía bên kia phòng, ngồi xuống trước mặt bà ta trong lúc bà ta cứ dịch tới dịch lui trên ghế. “Cái này không được thoải mái lắm, nhỉ? Có lẽ thêm ít đệm thì hơn. Tuy nhiên, một số người có thể cho rằng đệm thịt của chính tôi cũng đủ rồi!” Bà ta cười như nắc nẻ trước câu đùa của chính mình.

“Bà muốn gì?” tôi hỏi bà ta. “Sao bà lại có bật lửa của Nel?”

“Không phải của Nel, nó không phải của Nel, đúng không? Xem đây này,” bà ta chỉ vào các chữ khắc. “Đấy, thấy chưa? LS.”

“Phải, tôi biết. LS, Libby Seeton. Nhưng nó không hẳn là đồ của Libby, phải không? Tôi không nghĩ là người ta sản xuất được cái bật lửa đặc biệt như thế vào thế kỷ mười bảy.”

Nickie cười khúc khích. “Nó không phải của Libby! Cô tưởng LS là viết tắt của Libby à? Không, không, không! Cái bật lửa này là của Lauren. Lauren Townsend. Họ thời con gái của Lauren là Slater.”

“Lauren Slater?”

“Đúng vậy! Lauren Slater, cũng là Lauren Townsend. Bà già của chàng thanh tra của cô.”

“Mẹ của Sean?” Tôi nghĩ đến cái cậu bé đang leo lên các bậc thang, cậu bé trên cầu ấy. “Lauren trong câu chuyện là mẹ của Sean Townsend?”

“Đúng vậy. Lạy Chúa! Cô không phải người nhanh trí, nhỉ? Và nó không phải một câu chuyện, đúng không? Không đơn giản là một câu chuyện. Lauren Slater đã lấy Patrick Townsend. Cô ấy có một người con trai cô ấy yêu thương đến tận chân tơ kẽ tóc. Hết thảy đều ổn thỏa. Chỉ có điều sau đó, như bọn cớm muốn chúng ta tin đấy, cô ấy lại đi tìm đến cái chết!” Bà ta ngả người về phía trước và nhăn nhở cười với tôi. “Không mấy có khả năng, nhỉ? Hồi đó tôi đã nói thế rồi, tất nhiên, nhưng chẳng ai chịu nghe tôi.”

Vậy ra Sean đúng là cậu bé đó? Cậu bé trên bậc cầu thang, cậu bé đã chứng kiến mẹ mình rơi xuống, hoặc đã không chứng kiến mẹ mình rơi xuống, tùy theo ta tin vào ai? Đó có phải là chuyện thật, chứ không phải chỉ là sản phẩm do chị tưởng tượng ra, Nel? Lauren chính là người ngoại tình, người nghiện rượu, người đàn bà dâm đãng, bà mẹ tồi. Có phải đó là câu chuyện của bà ấy không? Lauren chính là người mà trên những trang giấy về bà ấy, chị đã viết: Beckford không phải địa điểm tự tử. Beckford là một nơi để loại bỏ những phụ nữ phiền phức. Có phải đó là điều chị vẫn cố nói với em?

Nickie vẫn đang nói. “Thấy chưa?” bà ta nói, chĩa một ngón tay về phía tôi. “Thấy chưa? Ý tôi chính là thế này đấy. Chẳng ai chịu nghe tôi cả. Cô đang ngồi kia còn tôi ở ngay đây trước mặt cô thế mà cô cũng có thèm nghe đâu!”

“Tôi đang nghe đấy chứ. Tôi chỉ… Tôi không hiểu.”

Bà ta đằng hắng. “Ái chà, nếu cô chịu lắng nghe thì cô sẽ hiểu. Cái bật lửa này” - cách, xì “cái này là của Lauren, nhỉ? Cô phải tự hỏi chính mình đi, tại sao chị gái cô lại giữ nó trên đó cùng với đồ đạc của cô ấy?”

“Trên đó? Vậy ra bà đã ở trong nhà! Bà đã lấy trộm nó, bà… Chính là bà phải không? Bà đã ở trong phòng tắm? Có phải bà đã viết gì đó lên gương?”

“Nghe tôi này!” Bà ta nặng nề lỗi người dậy. “Đừng lo về chuyện đó, nó không có gì quan trọng hết.” Bà ta dấn một bước về phía tôi, ngả người ra trước, và lại lách cách bật cái bật lửa, ngọn lửa chập chờn giữa hai chúng tôi. Bà ta tỏa mùi cà phê cháy và mùi hoa hồng tàn. Tôi ngửa ra sau, tránh thứ mùi già cả của bà ta.

“Cô có biết ông ta dùng nó làm gì không?” bà ta hỏi.

“Ai dùng nó làm gì? Sean à?”

“Không, đồ ngốc.” Bà ta đảo tròn mắt nhìn tôi và ì ạch quay trở lại ghế cửa sổ, giờ khẽ cọt kẹt đau đớn dưới sức nặng của bà ta. “Patrick! Lão già đó. Ông ta không dùng nó để châm thuốc lá đâu. Sau khi vợ ông ta chết, ông ta đã lấy tất cả mọi đồ đạc của cô ấy - tất tật quần áo và các bức tranh và mọi thứ cô ấy sở hữu - rồi ông ta mang hết ra đằng sau và đốt. Đốt cả đống. Và cái này” - bà ta lách cách bật cái bật lửa lần cuối -“chính là thứ ông ta đã dùng để châm lửa.”

“Được rồi,” tôi nói, sự kiên nhẫn dần bị mài mòn. “Nhưng tôi vẫn không hiểu. Tại sao Nel lại có nó? Và tại sao bà lại lấy nó từ chỗ chị ấy?”

“Câu hỏi, câu hỏi,” Nickie mỉm cười nói. “Chậc. Về phần tại sao tôi lại lấy nó, tôi cần một thứ gì đó của cô ấy mà, phải không? Có vậy thì tôi mới có thể nói chuyện đâu ra đấy với cô ấy được. Tôi thường nghe thấy giọng cô ấy một cách rõ ràng và dễ nghe, nhưng… cô biết đấy. Thỉnh thoảng các giọng nói vẫn bị nghẹn lại, đúng không?”

“Tôi thật sự không biết gì về chuyện đó cả,” tôi lạnh nhạt nói.

“Ôi, thôi đi! Cô không tin tôi à? Chẳng phải cô cũng từng nói chuyện với người chết à?” Bà ta bật cười vẻ thấu hiểu và da đầu tôi rúm lại. “Tôi cần một thứ gì đó làm phương tiện gọi hồn. Này!” Bà ta đưa cái bật lửa cho tôi. “Cô có thể lấy lại nó được rồi. Đáng ra tôi có thể bán nó đi, đúng không? Tôi lẽ ra đã có thể lấy đủ thứ và bán chúng đi - chị gái cô có vài món đắt giá, đúng không, nữ trang và đại loại thế? Nhưng tôi đã không làm vậy.”

“Bà tử tế quá.”

Bà ta toét miệng cười. “Còn về câu hỏi tiếp theo: tại sao chị gái cô có cái bật lửa đó? Chậc, tôi không thể nói chắc được.”

Cơn giận dữ choán hết người tôi. “Thật à?” Tôi khinh bỉ nhìn bà ta. “Tôi cứ tưởng là có thể nói chuyện với các linh hồn chứ? Tôi cứ tưởng đó là biệt tài của bà chứ?” Tôi nhìn quanh phòng. “Giờ chị ấy có đây không? Sao bà không hỏi trực tiếp chị ấy đi?”

“Không đơn giản như thế, phải không?” bà ta nói, vẻ tổn thương. “Tôi đã cố triệu hồi cô ấy, nhưng cô ấy nhất định giữ im lặng.” Cứ tưởng lừa được tôi không bằng. “Không cần phải tỏ ra khinh khỉnh làm gì. Tôi chỉ đang cố giúp đỡ. Tôi chỉ đang cố gắng nói với cô…”

“Ôi chao, vậy thì nói với tôi đi!” Tôi cáu kỉnh. “Muốn nói gì thì nói nhanh lên!”

“Đừng có nhặng lên,” bà ta nói, môi dưới bĩu ra, cằm run run. “Tôi vẫn đang nói với cô đấy thôi, chỉ cần cô chịu lắng nghe. Cái bật lửa là của Lauren, và Patrick là người cuối cùng giữ nó. Và đó chính là điểm quan trọng. Tôi không biết tại sao Nel lại có nó, nhưng quan trọng là Cô ấy đã có nó, thấy không? Cô ấy đã lấy nó từ chỗ ông ta, có lẽ vậy, hoặc có thể ông ta đã đưa nó cho cô ấy. Dù sao đi nữa, đó là điểm quan trọng. Lauren là người quan trọng. Toàn bộ chuyện này - chuyện chị gái Nel của cô - không phải là về Katie Whittaker tội nghiệp hay tay thầy giáo ngu ngốc đó hay mẹ của Katie hay gì gì đó. Chuyện là về Lauren, và Patrick.”

Tôi cắn môi. “Làm sao đây lại là chuyện về họ?”

“Chậc.” Bà ta đổi tư thế trên ghế. “Cô ấy đang viết chuyện về họ, đúng không? Và cô ấy đã lấy câu chuyện từ Sean Townsend, bởi vì, xét cho cùng, anh ta chính là nhân chứng, phải không? Vậy nên cô ấy cho rằng anh ta đã kể sự thật, và tại sao cô ấy lại không nên nghĩ thế chứ?”

“Tại sao anh ta lại không làm thế? Ý tôi là, có phải bà muốn nói Sean đã nói dối về chuyện đã xảy ra với mẹ anh ta?”

Bà ta mím môi lại. “Cô đã gặp lão già đó chưa? Ông ta là một con quỷ, đúng vậy đấy, và tôi không nói theo nghĩa tốt đâu.”

“Vậy là Sean đã nói dối về cái chết của mẹ anh ta bởi vì anh ta sợ bố mình?”

Nickie nhún vai. “Tôi không nói chắc được. Nhưng có một chuyện tôi biết rõ: câu chuyện Nel đã nghe được - phiên bản đầu tiên, chuyện rằng Lauren đã chạy khỏi nhà giữa đêm và chồng con cô ấy đuổi theo sau - nó không phải sự thật. Tôi đã nói với cô ấy vậy. Bởi vì, cô thấy đấy, Jeannie của tôi - em gái tôi - thời điểm đó con bé đã ở gần đấy. Con bé đã ở đó. Đêm đó…” Đột nhiên, bà ta xọc tay vào trong áo khoác và bắt đầu lục lọi lung tung. “Chuyện là,” bà ta nói, “tôi đã kể cho Nel nghe câu chuyện của Jeannie và Nel đã viết nó ra.” Bà ta lôi ra một tập giấy. Tôi với tay định lấy, nhưng Nickie đã giật lại.

“Hượm đã,” bà ta nói. “Cô phải hiểu rằng đây” - bà ta vẫy vẫy tập giấy về phía tôi - “không phải là toàn bộ câu chuyện. Bởi vì mặc dù tôi đã kể cho cô ấy nghe toàn bộ câu chuyện, cô ấy lại không viết ra toàn bộ. Chị gái cô đúng là người cứng đầu cứng cổ. Đó cũng là một phần lý do tôi rất mến cô ấy. Vậy là chính lúc đó chúng tôi đã có những bất đồng ý kiến nho nhỏ.” Bà ta ổn định lại vị trí trên ghế, đung đưa hai chân mạnh hơn trước nhiều. “Tôi đã kể cho cô ấy nghe về Jeannie, hồi Lauren chết nó vẫn đang làm cảnh sát.” Bà ta ho sù sụ. “Jeannie không nghĩ là cô ấy sẽ tham gia nếu thiếu một cú huých, bởi vì có đủ các loại chuyện khác đang vẫn đang diễn ra, cô thấy đấy. Con bé biết rằng lão già của Lauren là một con quỷ và rằng ông ta đã đánh đập cô ấy và ông ta còn kể rằng cô ấy đã gặp gỡ một gã nhân tình nào đó ở chỗ của Anne Ward, mặc dù chẳng ai từng nhìn thấy bóng dáng nào của một gã như thế. Nó xứng đáng là lý do, thấy không? Gã đàn ông vẫn làm những trò bẩn thỉu cùng cô ấy, gã ta đã chạy mất bỏ mặc cô ấy và cô ấy rối trí vì chuyện đó, vậy nên cô ấy đã nhảy xuống.” Nickie phẩy tay về phía tôi. “Vớ vẩn. Với một đứa trẻ sáu tuổi ở nhà ư? Vớ vẩn.”

“Chậc, thật ra thì,” tôi nói, “có lẽ bà sẽ thấy rằng chứng trầm cảm là một thứ phức tạp…”

“Phìì!” Bà ta dập tắt lời tôi nói bằng một cái phẩy tay nữa. “Chẳng có gã nhân tình nào cả. Chẳng có ai quanh đây từng nhìn thấy một người nào như thế. Cô có thể hỏi Jeannie của tôi về chuyện đó, chỉ có điều con bé đã chết mất tiêu rồi. Và cô biết ai đã khử con bé, phải không?”

Khi bà ta cuối cùng cũng ngừng nói, tôi nghe thấy tiếng dòng nước đang thì thầm trong tĩnh lặng. “Ý bà là Patrick đã giết vợ, và Nel biết chuyện đó? Ý bà là chị ấy đã viết về chuyện đó?”

Nickie cáu kỉnh phản đối. “Không! Đó là chuyện tôi đang kể với cô. Cô ấy đã viết về một số chuyện, nhưng không viết nhiều chuyện khác, và chính ở điểm đó chúng tôi đã mâu thuẫn với nhau, bởi vì cô ấy hoàn toàn vui vẻ khi viết về những chuyện Jeannie đã kể với tôi khi con bé còn sống, chứ không phải những chuyện Jeannie kể với tôi khi con bé đã qua đời. Mà chuyện đó thì nào có nghĩa lý gì cơ chứ.”

“Chà…”

“Chẳng nghĩa lý gì. Nhưng cô cần phải lắng nghe. Và nếu cô không chịu nghe tôi,” bà ta nói, dúi xấp giấy về phía tôi, “thì cô có thể lắng nghe chị cô. Bởi vì ông ta đã khử họ. Theo cùng một cách. Patrick Townsend đã khử Lauren, và ông ta đã khử Jeannie của tôi, và nếu tôi không nhầm, ông ta cũng đã khử Nel của cô và cả đám đó.”

Vũng Sông Chết đuối

Lại là Lauren, 1983

Lauren lên đường tới ngôi nhà nhỏ của Anne Ward. Dạo gần đâu, cô càng ngày càng thường xuyên tới nơi này - nó thật yên bình theo một cách mà dường như không một nơi nào khác ở Beckford có được. Cô cảm thấy một sự gần gũi kỳ lạ với Anne tội nghiệp. Cô cũng bị giam cầm trong một cuộc hôn nhân không tình yêu với một người đàn ông không thể chịu đựng nổi cô. Ở đây, Lauren có thể bơi, hút thuốc, đọc sách và không bị bất cứ ai làm phiền. Thường là thế.

Một sáng, có hai người phụ nữ đi dạo ngoài trời. Cô nhận ra họ: Jeannie, nữ cảnh sát mập mập mặt mũi hồng hào và chị gái cô ấy, Nickie, người nói chuyện được với người chết. Lauren thích Nickie hơn. Cô ấy vui tính và có vẻ tốt bụng. Dẫu rằng cô ấy là một kẻ lừa đảo.

Jeannie í ới gọi cô và Lauren phẩy tay từ chối, hy vọng sẽ xua họ đi được. Thường thì cô sẽ ra chuyện phiếm. Nhưng giờ mặt cô đang rất kinh mà cô thì lại không có tâm trạng giải thích.

Cô đi bơi. Có ý thức rõ mình đang làm mọi việc một lần cuối cùng: một chuyến đi dạo cuối cùng, một chầu hút thuốc cuối cùng, một nụ hôn cuối cùng lên vầng trán xanh xao của con trai cô, một lần (gần) cuối cùng ngâm mình trong dòng sông. Khi cô ngụp xuống bên dưới dòng nước, có thầm hỏi không biết có phải nó sẽ như thế này, không biết liệu cô có cảm thấy bất kỳ điều gì không. Cô thầm hỏi không biết toàn bộ sức chiến đấu của cô đã đi đâu về đâu.

Jeannie là người đến dòng sông trước. Cô đang ở đồn quan sát cơn bão thì nhận được cuộc gọi: Patrick Townsend đang hoảng loạn và nói năng đứt quãng, la hét gì đó trên điện đàm về vợ ông ta. Vợ ông ta và Vũng Sông Chết Đuối. Khi Jeannie đến nơi, cậu bé đang ở bên dưới hàng cây, đầu gục trên đầu gối. Thoạt đầu, cô cứ tưởng cậu đã ngủ thiếp đi, nhưng khi cậu ngước nhìn lên, hai mắt cậu trợn trừng và tối sầm.

“Sean,” cô gọi, cởi áo khoác ra phủ lên người cậu. Cậu tái nhợt cà run bần bật, bộ pyjama ướt sũng, hai bàn chân trần đóng két bùn. “Có chuyện gì vậy?”

“Mẹ ở trong dòng nước,” cậu nói. “Cháu phải ở lại đây cho tới khi ông ấy quay trở về.

“Ai? Bố cháu à? Bố cháu đang ở đâu?”

Sean gỡ một cánh tay xương xẩu ra khỏi chiếc áo khoác cà chỉ về phía sau lưng cô, và Jeannie nhìn thấy Patrick đang nặng nề lê người lên trên bờ, hơi thở bật ra thành những tiếng thổn thức, khuôn mặt méo mó vì đau khổ.

Jeannie bước tới chỗ ông ta. “Thưa ngài, tôi… Xe cứu thương đang trên đường tới, ước chừng bốn phút nữa…”

“Quá trễ,” Patrick nói, lắc đầu. “Tôi đã quá trễ. Cô ấy đi rồi.”

Những người khác đến: các nhân viên y tế, cảnh sát và một hoặc hai điều tra viên có thâm niên hơn. Sean đã đứng dậy; vẫn trùm chiếc áo khoác của Jeannie quanh người như một chiếc áo choàng không tay, cậu bám chặt lấy bố mình.

“Cô đưa thằng bé về nhà được không?” một trong hai điều tra viên kia nói với cô.

Cậu bé khóc òa. “Xin làm ơn. Đừng. Cháu không muốn đâu. Cháu không muốn đi.”

Patrick nói, “Cô đưa thằng bé về chỗ cô được không, Jeannie? Thằng bé đang hoảng loạn và không muốn về nhà.”

Patrick quỳ trong bùn, ôm lấy con trai, đỡ đầu cậu bé, thì thầm vào tai cậu. Đến lúc ông ta đứng dậy, cậu bé có vẻ bình tĩnh và ngoan ngoãn. Cậu luồn tay vào lòng bàn tay Jeannie, lóc cóc đi cạnh cô, không hề nhìn lại phía sau.

Quay trở về căn hộ của mình, Jeannie giúp Sean lột hết đống quần áo ướt ra. Cô quấn cậu trong một chiếc chăn và làm bánh mì nướng phết phó mát. Sean ăn, lặng lẽ và cẩn trọng, vươn người lên trên cái đĩa để không làm rớt vụn thức ăn. Khi đã ăn xong, cậu hỏi, “Mẹ cháu sẽ không sao chứ ạ?”

*Jeannie dọn dẹp đống bát đĩa cốt làm cho mình bận rộn. “Cháu đã thấy đủ ấm chưa, Sean?” cô hỏi cậu. *

“Cháu ổn ạ.”

Jeannie pha hai cốc trà và bỏ vào mỗi cốc hai viên đường. “Cháu có muốn kể cho cô nghe xem đã có chuyện gì không, Sean?” cô hỏi, và cậu lắc đầu. “Không à? Sao cháu xuống chỗ dòng sông được? Cháu bị dính bùn đến là kinh.”

“Cháu đi ô tô, nhưng cháu bị ngã trên đường,” cậu nói.

“Ừ. Vậy là bố cháu đã lái xe chở cháu đến đó hả? Hay là mẹ cháu?”

“Cả nhà cháu cùng đi,” Sean nói.

“Cả nhà cháu à?”

*Mặt Sean nhăn rúm lại. “Khi cháu thức dậy thì trời đang bão, rất ầm ĩ, và trong bếp có những tiếng động rất kì.” *

“Những tiếng động kỳ cục kiểu như thế nào?”

“Kiểu như… kiểu như tiếng kêu của một con chó, khi nó buồn.”

“Giống như tiếng rên rỉ hả?”

Sean gật đầu. “Nhưng nhà cháu không có chó vì cháu không được phép nuôi. Bố bảo cháu sẽ không chăm sóc nó tử tế được và thế thì sẽ chỉ sinh thêm một việc nữa cho bố làm thôi.” Cậu nhấm nháp cốc trà và lau mắt. “Cháu không muốn ở một mình vì trời đang có bão. Vậy nên bố cho cháu vào trong xe.”

“Còn mẹ cháu?”

*Cậu cau mày. “À. Bà ở trong dòng sông và cháu phải đợi dưới hàng cây. Cháu không được phép nói về chuyện đó đâu.” *

“Ý cháu là gì, Sean? Cháu bảo không được phép nói về chuyện đó nghĩa là sao?”

Cậu lắc đầu và nhún vai, không nói thêm một lời nào nữa.

Sean

Howick. Gần Craster. Lịch sử đừng có lặp lại y như đùa giỡn tôi thế chứ. Chỗ đó không xa Beckford, không quá một tiếng đồng hồ chạy xe, nhưng tôi chưa bao giờ đi đến đây. Tôi không tới bãi biển hay lâu đài, tôi chưa bao giờ ăn món cá trích muối nổi tiếng từ nhà hun khói nổi tiếng. Nó là chuyện mẹ tôi thích làm, muốn được làm. Chứ bố thì chưa bao giờ dẫn tôi đi, và giờ tôi cũng chẳng bao giờ tới đó.

Khi Tracey bảo tôi biết vị trí của ngôi nhà, nơi tôi buộc phải tới, tôi cảm thấy kích động. Tôi thấy tội lỗi. Tôi có cùng cái cảm giác khi nghĩ tới hứa hẹn của mẹ về một bữa tiệc sinh nhật, lời hứa tôi đã gạt bỏ vì ngọn Tháp London. Nếu tôi không tỏ thái độ bạc bẽo đến thế, nếu tôi nói tôi muốn đi cùng bà tới bãi biển, tới lâu đài, liệu mẹ có ở lại không? Mọi thứ liệu có khác đi không?

Chuyến đi chưa từng được thực hiện đó là một trong rất nhiều chuyện vướng bận tâm trí tôi sau khi mẹ mất, khi toàn bộ tâm trí của tôi đã được dành trọn vẹn cho việc xây dựng một thế giới mới, một hiện thực thay thế trong đó mẹ không phải chết. Giá như chúng tôi thực hiện chuyến đi tới Craster, giá như tôi đã dọn phòng sạch sẽ như được dặn, giá như tôi không làm vấy bùn lên cái cái cặp sách mới lúc đi bơi xuôi dòng sông, giá như tôi chịu nghe theo bố tôi và không quá thường xuyên trái lời ông như thế. Hoặc, sau này, tôi vẫn thường băn khoăn không biết có phải đáng ra tôi không nên nghe theo bố tôi, đáng ra tôi nên trái lời ông, đáng ra tối đó tôi nên thức khuya thay vì lên giường đi ngủ. Có lẽ khi đó tôi có thể đã đủ khả năng thuyết phục bà đừng đi.

Không có cái nào trong những kịch bản thay thế tôi vẽ ra đạt được hiệu quả, và cuối cùng, một vài năm sau, tôi dần hiểu ra rằng tôi có làm gì cũng vô tác dụng mà thôi. Điều mẹ tôi muốn không phải là tôi làm gì đó, mà là một người khác làm gì đó hoặc không làm gì đó: điều mẹ tôi muốn là người đàn ông mẹ yêu, người đàn ông mẹ âm thầm gặp gỡ, người đàn ông đã khiến mẹ phản bội bố tôi, sẽ không bỏ rơi bà. Người đàn ông này chưa từng lộ diện, không ai biết tên. Ông ta là một bóng ma, bóng ma của chúng tôi - của tôi và của bố tôi. Ông ta trao cho chúng tôi lý do, ông ta mang lại cho chúng tôi một sự nhẹ nhõm nhất định: chuyện này không phải lỗi của chúng tôi. (Nó là lỗi của ông ta, hoặc nó là lỗi của bà, của cả hai người họ, người mẹ phản bội của tôi cùng gã nhân tình của bà. Chúng tôi không thể làm gì hơn được, chỉ là bà đã không đủ yêu thương chúng tôi.) Ông ta trao cho chúng tôi một cách để tỉnh dậy mỗi buổi sáng, một cách để tiếp tục tiến lên phía trước.

Và rồi Nel xuất hiện.

Lần đầu tiên đến nhà, cô đã hỏi gặp bố tôi. Cô muốn nói chuyện với ông về cái chết của mẹ tôi. Hôm đó ông không có nhà và tôi cũng vậy, thế nên cô đã nói chuyện với Helen, và chẳng được cô ấy để ý mấy. Không những Patrick sẽ không nói chuyện với cô, Helen bảo với cô thế, mà ông ấy cũng sẽ không tán thành hành vi xâm phạm riêng tư này. Sean cũng không đâu, không ai trong chúng tôi chấp nhận đâu. Đây là chuyện riêng, Helen nói, và nó đã thành quá khứ rồi.

Nel phớt lờ cô ấy và vẫn tiếp cận bố. Phản ứng của ông đã khơi dậy trí tò mò của cô. Ông không giận dữ như cô tưởng; ông không bảo với cô rằng chuyện này quá đau lòng và ông không muốn nói về nó, rằng ông không thể chịu nổi nếu phải khơi dậy toàn bộ chuyện đó một lần nữa. Ông nói rằng chuyện chẳng có gì mà nói. Chẳng xảy ra chuyện gì hết. Đó chính là điều ông đã nói với cô. Chẳng xảy ra chuyện gì hết.

Vậy nên, cuối cùng, cô đến tìm tôi. Khi đó, đường giữa mùa hè. Tôi có một cuộc họp tại đồn ở Beckford và lúc ra ngoài, tôi thấy cô đang nghiêng người tựa vào xe tôi. Cô mặc chiếc váy dài quét đất, đôi sandal da đỡ đôi chân rám nắng, ngón chân son màu xanh sáng. Trước đó, tôi đã thấy cô lượn lờ xung quanh, tôi đã để ý đến cô - cô xinh đẹp, khó mà không khiến người ta chú ý. Nhưng cho tới tận lúc ấy, tôi chưa từng nhìn cô khoảng cách gần. Tôi chưa bao giờ nhận ra mắt cô mới xanh lục làm sao, rằng nó đã mang lại cho cô một vẻ khác biệt thế nào. Giống như thể cô không thuộc về thế giới này, chắc chắn không thuộc về nơi này. Cô quá khác lạ.

Cô kể cho tôi nghe điều bố tôi đã nói với cô, rằng chẳng xảy ra chuyện gì hết, và cô hỏi tôi, “Có phải anh cũng cảm thấy thế không?” Tôi bảo cô rằng ông không thật lòng nghĩ thế đâu, ông không thật lòng cho rằng chẳng xảy ra chuyện gì hết. Ông chỉ có ý rằng chúng tôi không nói gì về chuyện đó, rằng nó đã ở lại phía sau chúng tôi. Chúng tôi đã để nó lại phía sau rồi.

“Chậc, tất nhiên là thế rồi,” cô nói, mỉm cười nhìn tôi. “Và tôi hiểu mà, nhưng tôi đang tiến hành dự án này, anh biết đấy, một cuốn sách, và có khi là một cuộc triển lãm nữa, và tôi…”

“Không,” tôi bảo cô. “Ý tôi là, tôi biết cô đang làm gì nhưng tôi - chúng tôi - không thể góp phần vào đó được. Chuyện đó thật đáng xấu hổ.”

Cô hơi chùn lại, nhưng nụ cười của cô vẫn giữ nguyên. “Đáng xấu hổ? Đúng là một cách dùng từ kỳ lạ. Làm sao mà nó lại là chuyện đáng xấu hổ?”

“Nó là chuyện đáng xấu hổ đối với chúng tôi,” tôi nói. “Với ông ấy.” (Với chúng tôi hoặc với ông ấy, tôi không nhớ rõ tôi đã nói cái nào nữa.)

“Ồ.” Đến lúc đó, nụ cười biến mất khỏi khuôn mặt cô, cô có vẻ bối rối, quan tâm. “Không. Nó không… không đâu. Nó không hề đáng xấu hổ. Tôi không nghĩ là lại còn có ai suy nghĩ kiểu đó nữa, đúng không?”

“Ông ấy nghĩ thế.”

“Xin anh,” cô nói, “chẳng lẽ anh không nói chuyện với tôi được ư?”

Chắc hẳn tôi đã quay đi tránh khỏi cô, bởi vì cô đã đặt tay lên cánh tay tôi. Tôi nhìn xuống và thấy những chiếc nhẫn bạc trên các ngón tay cô cùng chiếc vòng trên cánh tay và những vết sơn xanh nham nhở trên móng tay. “Xin anh, anh Townsend. Sean. Tôi muốn nói với anh về chuyện này từ lâu lắm rồi.”

Cô lại mỉm cười. Cách cô gọi tên tôi, trực tiếp và thân mật, khiến cho tôi không thể nào từ chối được. Lúc đó, tôi đã biết rằng mình đã vướng phải rắc rối, rằng cô đã vướng phải rắc rối, kiểu rắc rối tôi vẫn chờ đợi suốt cả quãng đời trưởng thành của mình.

Tôi đồng ý kể cho cô nghe những gì tôi nhớ về buổi tối mẹ tôi qua đời. Tôi nói tôi sẽ gặp cô ở nhà cô, nhà Cối Xay. Tôi đề nghị cô giữ kín cuộc gặp này, bởi vì nó sẽ làm bố tôi khó chịu, nó sẽ làm vợ tôi khó chịu. Cô tỏ ra ngần ngại khi nghe đến từ vợ, và lại mỉm cười, và lúc đó cả hai chúng tôi đều biết chuyện này sẽ đi đến đâu. Lần đầu tiên tôi đến nói chuyện với cô, chúng tôi đã chẳng nói được gì.

Vậy nên tôi phải quay lại. Tôi vẫn tiếp tục quay lại gặp cô và chúng tôi vẫn tiếp tục không nói gì. Tôi thường dành một tiếng đồng hồ ở bên cô, hoặc hai, nhưng khi tôi tạm biệt cô, dường như tận mấy ngày đã trôi qua. Đôi khi tôi lo rằng tôi đã bị trôi dạt và đánh mất thời gian. Thỉnh thoảng, tôi đã bị như thế thật. Bố tôi gọi như thế là cho chính mình rút lui, như thể nó là một hành động tôi thực hiện có chủ tâm, một điều tôi có thể kiểm soát, nhưng không phải thế. Tôi vẫn luôn như thế, kể từ hồi còn nhỏ: mới lúc trước tôi vẫn còn ở kia, nhưng lúc sau đã không còn thế nữa. Tôi không chủ tâm để chuyện đó xảy ra. Thỉnh thoảng, khi trôi dạt tới đâu đâu, tôi ý thức được điều đó, và thỉnh thoảng tôi có thể đưa mình quay trở lại - từ rất lâu trước đây tôi đã tự học được cách làm thế: tôi sờ lên vết sẹo trên cổ tay. Nó thường hiệu quả. Không phải luôn luôn.

Tôi không có thời gian kể cho cô nghe câu chuyện, ngay lúc ban đầu thì không. Cô hối thúc tôi, nhưng cô mang lại cho tôi nhiều vui thích, khiến tôi rất dễ phân tâm. Tôi tưởng tượng rằng cô đã phải lòng tôi và rằng chúng tôi sẽ bỏ đi, cô và Lena và tôi, chúng tôi sẽ nhổ rễ, rời bỏ ngôi làng này, rời bỏ đất nước này. Tôi tưởng tượng rằng cuối cùng tôi cũng sẽ được phép quên lãng. Tôi tưởng tượng rằng Helen sẽ không sầu não vì tôi, rằng cô ấy sẽ nhanh chóng hướng lòng sang một người khác xứng đáng hơn với sự tử tế bền bỉ của cô. Tôi tưởng tượng rằng bố tôi sẽ ra đi trong giấc ngủ.

Cô bòn rút câu chuyện ra từ tôi, từng chút từng chút một, và tôi thấy rõ ràng cô đã thất vọng. Nó không phải câu chuyện cô muốn nghe. Cô muốn câu chuyện hoang đường, câu chuyện kinh dị, cô muốn có cậu bé đã chứng kiến câu chuyện ấy. Rồi tôi nhận ra rằng việc cô tiếp cận bố tôi chỉ là món khai vị: tôi đã được định sẵn là món chính. Tôi đã được định sẵn là trung tâm dự án của cô, bởi vì với cô đó chính là cách nó bắt đầu, với Libby và rồi với tôi.

Cô ngon ngọt dỗ dành moi móc từ tôi những thông tin tôi không muốn kể với cô. Tôi biết đáng lẽ tôi nên dừng lại, nhưng tôi không thể. Tôi biết tôi đã chìm đắm vào trong một thứ sẽ không cho phép tôi có đường thoát thân. Tôi biết tôi đã trở nên khinh suất. Chúng tôi không còn gặp gỡ ở Cối Xay nữa, vì trường đã bắt đầu nghỉ học và Lena thường xuyên có mặt ở nhà. Thay vào đó, chúng tôi tới căn nhà nhỏ của Ward, dẫu tôi biết thế là mạo hiểm, nhưng đâu có phòng khách sạn để mà thuê chứ, ở trong làng thì không, và chúng tôi có thể đi đến nơi nào khác? Tôi chưa bao giờ nảy sinh ý nghĩ rằng mình nên ngừng gặp gỡ cô; hồi đó, việc ấy dường như là không thể.

Bố tôi thường đi dạo vào lúc sáng sớm, vậy nên tôi không biết tại sao chiều hôm ấy ông lại có mặt ở đó. Nhưng ông đã ở đó, và ông phát hiện ra ô tô của tôi, ông đợi trong hàng cây cho tới khi Nel đã rời đi và ông đánh tôi. Ông đấm tôi ngã xuống đất, đá vào ngực vào vai tôi. Tôi co người lại, bảo vệ đầu, theo đúng cách tôi đã được dạy. Tôi không đánh trả, bởi vì tôi biết ông sẽ dừng lại khi nào thấy đủ, và khi nào ông biết tôi không thể chịu đựng thêm được nữa.

Sau đó, ông tịch thu chìa khóa của tôi và lái xe đưa tôi về nhà. Helen bùng nổ: đầu tiên là với bố tôi, vì vụ đánh đập, và sau đó là với tôi, khi bố giải thích lý do đánh tôi. Trước đây, tôi chưa bao giờ thấy cô ấy giận dữ, không phải giống như thế. Chỉ đến khi tận mắt chứng kiến cơn giận dữ của cô ấy, lạnh lùng và đáng sợ, tôi mới bắt đầu tưởng tượng ra cô ấy có thể làm gì, cô ấy có thể trả thù theo cách nào. Tôi tưởng tượng rằng cô ấy sẽ đóng gói hành lý và bỏ đi, tôi tưởng tượng rằng cô ấy sẽ xin nghỉ việc ở trường, tưởng tượng ra vụ scandal ầm ĩ, cơn giận của bố tôi. Đó là kiểu trả thù tôi đã tưởng tượng ra rằng cô ấy có thể thực hiện. Nhưng tôi đã nhầm.

Lena

Tôi há hốc miệng. Tôi cố hết sức hóp không khí và thúc cùi chỏ vào sườn ông ta. Ông ta oằn người lại, nhưng vẫn ghìm tôi xuống. Hơi thở nóng hổi của ông ta phả lên mặt tôi khiến tôi chỉ muốn nôn ọe.

“Quá tốt so với ông,” tôi vẫn tiếp tục nói, “nó quá tốt so với ông, quá tốt để bị ông sờ vào, quá tốt để bị ông chịch… Ông đã bắt nó phải trả giá bằng cả cuộc đời nó, đồ rác rưởi. Tôi không hiểu nổi sao ông có thể làm thế, sao ông có thể ngày ngày thức dậy, sao ông có thể đi làm, sao ông có thể nhìn vào mắt mẹ nó…”

Ông ta cào mạnh cái đinh lên cổ tôi và tôi nhắm mắt lại, chờ đợi. “Em không biết thầy đã phải chịu đựng những gì đâu,” ông ta nói. “Không biết đâu.” Rồi ông ta túm tóc tôi giật mạnh, sau đó đột ngột thả ra khiến cho đầu tôi đập vào bàn, và tôi không thể kiềm chế được nữa. Tôi òa khóc.

Mark thả tôi ra và đứng dậy. Ông ta lùi ra sau vài bước rồi đi vòng sang phía bên kia bàn để có thể quan sát tôi rõ hơn. Ông ta đứng đó nhìn tôi và tôi không mong muốn gì hơn là mặt đất sẽ há ra nuốt chửng tôi đi. Cho dù có là chuyện gì thì cũng còn tốt hơn chán so với bị ông ta chứng kiến mình đang khóc. Tôi đứng dậy. Tôi nức nở như một em bé đánh mất cái núm vú cao su và ông ta bắt đầu nói, “Thôi đi! Thôi đi, Lena. Đừng khóc như thế. Đừng khóc như thế,” và thật quái dị vì ông ta cũng đang khóc, và ông ta không ngừng nói câu đó, nhắc đi nhắc lại, “Đừng khóc nữa, Lena, đừng khóc nữa.”

Tôi ngừng khóc. Chúng tôi nhìn nhau, cả hai chúng tôi đều lem nhem nước mắt nước mũi trên mặt, ông ta vẫn cầm cây đinh trong tay, rồi ông ta nói,“Thầy không làm chuyện đó. Chuyện em tưởng thầy đã làm ấy. Thầy không động đến mẹ em. Thầy đã từng nghĩ đến việc đó. Thầy đã từng nghĩ ra đủ mọi thứ để làm với mẹ em, nhưng thầy đã không làm.”

“Ông đã làm” tôi nói. “Ông có cái vòng tay của mẹ, ông…”

“Bà ấy đến gặp thầy,” ông ta nói. “Sau khi Katie mất. Bà ấy bảo thầy phải phơi bày bí mật. Vì Louise!” Ông ta bật cười. “Như thể bà ấy thật lòng quan tâm vậy. Như thể bà ấy quan tâm đến bất kỳ ai vậy. Thầy biết tại sao bà ấy lại muốn thầy nói gì đó. Bà ấy cảm thấy tội lỗi vì đã nhồi nhét các ý tưởng vào trong đầu Katie, bà ấy cảm thấy tội lỗi và muốn ai đó khác gánh chịu trách nhiệm. Bà ấy muốn trút hết lên thầy, con mụ khốn kiếp ích kỷ.” Tôi dõi nhìn trong lúc ông ta lật lật cái đinh trong hai bàn tay và tôi tưởng tượng ra cảnh mình đang lao về phía ông ta, chộp lấy nó và đâm nó vào mắt ông ta. Miệng tôi khô khốc. Tôi liếm môi và nếm thấy vị mặn.

Ông ta vẫn tiếp tục nói. “Thầy đề nghị bà ấy cho thầy chút thời gian. Thầy bảo bà ấy thầy sẽ nói chuyện với Louise, chỉ có điều thầy cần suy nghĩ mạch lạc xem sẽ nói gì, sẽ giải thích như thế nào. Thầy đã thuyết phục được bà ấy.” Ông ta nhìn xuống cây đinh trong tay và rồi quay lại nhìn tôi. “Em thấy đấy, Lena, thầy chẳng cần phải làm gì bà ấy cả. Cách đối phó với những người phụ nữ như thế - những phụ nữ giống như mẹ em - không phải là dựa vào bạo lực, mà phải nhắm vào tính tự phụ của họ. Trước đây thầy đã quen biết nhiều phụ nữ giống bà ấy rồi, những người phụ nữ đứng tuổi, trên ba mươi lăm, đang mất dần nhan sắc. Họ muốn cảm thấy mình được người khác khao khát. Ta có thể ngửi thấy mùi tuyệt vọng từ cách xa hàng dặm. Thầy biết phải làm gì, mặc dù chỉ nghĩ đến nó thôi thầy cũng đã thấy sởn cả gai ốc. Thầy phải hùa theo bà ấy. Dụ dỗ bà ấy. Quyến rũ bà ấy.” Ông ta dừng lại, chà mu bàn tay lên miệng. “Thầy nghĩ có lẽ thầy sẽ chụp được một vài bức ảnh của bà ấy. Thỏa thuận với bà ấy. Đe dọa làm bà ấy bẽ mặt. Thầy nghĩ có lẽ sau đó mẹ em sẽ để cho thầy yên, để thầy được gặm nhấm nỗi đau.” Ông ta hơi hếch cằm lên. “Kế hoạch của thầy là thế. Nhưng rồi Helen Townsend chen ngang, và thầy chẳng phải làm gì hết.”

Ông ta ném cây đinh sang một bên. Tôi nhìn nói nấy trên mặt cỏ và đáp xuống yên vị bên bức tường.

“Ông đang nói gì vậy?” tôi hỏi. “Ý ông là sao?”

“Thầy sẽ kể cho em. Thầy sẽ kể. Chỉ có điều..” Ông ta thở dài. “Em biết rõ thầy không muốn làm em bị tổn thương, Lena. Thầy không bao giờ muốn làm tổn thương em. Thầy buộc phải đánh em khi em tấn công thầy lúc ở nhà - thầy biết làm gì khác chứ? Nhưng thầy sẽ không lặp lại chuyện đó lần nữa. Sẽ không như thế trừ phi em bắt buộc thầy phải làm. Được chứ?” Tôi không nói gì.“Thầy cần em làm điều này đây. Thầy cần em quay trở lại Beckford, khai với cảnh sát rằng em đã bỏ trốn, em đi nhờ xe, sao cũng được. Thầy không quan tâm em nói gì với họ - chỉ có điều em phải nói dối họ về thầy. Em đã dựng lên toàn bộ chuyện này. Bảo với họ em đã dựng lên chuyện này vì em ghen, vì em đau khổ đến phát điên, có lẽ chỉ bởi vì em là một con nhóc khốn kiếp hằn học khát khao sự chú ý, thầy không quan tâm em nói gì với họ. Được chứ? Miễn là em bảo họ rằng em đã nói dối.”

Tôi nheo mắt nhìn ông ta. “Tại sao ông cho rằng tôi sẽ làm thế? Nghiêm túc đấy à? Cái khỉ gì sẽ buộc tôi làm thế? Dù sao đi nữa, đã quá muộn rồi. Josh đã kể với họ rồi, tôi không phải người duy nhất…”

“Vậy thì cứ bảo họ là Josh đã nói dối. Bảo họ em đã dụ Josh nói dối. Bảo Josh bác bỏ câu chuyện của thằng bé đi. Thầy biết em có thể làm thế. Và thầy nghĩ em sẽ làm thế thôi, bởi vì nếu em làm thế, không những thầy sẽ không làm em bị tổn thương, mà,” ông ta thò tay vào trong túi quần jean lôi cái vòng tay ra, “thầy sẽ kể với em những gì em cần biết. Em hãy làm chuyện này cho thầy, và thầy sẽ kể với em những gì thầy biết.”

Tôi bước tới chỗ bức tường. Tôi quay lưng về phía ông ta, và tôi run lên bần bật, vì tôi biết rõ ông ta có thể đến tìm tôi, biết rõ ông ta có thể kết liễu tôi nếu muốn. Nhưng tôi không nghĩ là ông ta muốn làm thế. Tôi có thể nhận ra chuyện đó. Ông ta muốn chạy trốn. Tôi khẽ gây ngón chân lên cây đinh. Câu hỏi thực sự duy nhất là, tôi có định tha cho ông ta không?

Tôi quay người lại đối diện với ông ta, lưng quay về phía bức tường. Tôi nghĩ đến tất cả những sai lầm ngu ngốc tôi đã phạm phải trên đường đi dẫn đến cơ sự này và rằng tôi sẽ không phạm thêm sai lầm nào nữa. Tôi giả và sợ hãi, tôi giả vờ cảm kích. “Ông hứa chứ?… Ông sẽ để tôi quay lại Beckford chứ?… Xin ông, Mark, ông hứa chứ?” Tôi giả vờ nhẹ nhõm, tôi giả vờ tuyệt vọng, tôi giả vờ ăn năn. Tôi đánh lừa ông ta. Ông ta ngồi xuống, đặt cái vòng tay lên giữa bàn trước mặt.

“Thầy đã tìm thấy nó,” ông ta nói thẳng thừng và tôi cười phá lên.

“Ông đã tìm thấy nó? Sao hả, kiểu như là, trong dòng sông, nơi cảnh sát đã tìm kiếm suốt nhiều ngày? Tha cho tôi đi.”

Ông ta ngồi im lặng một thoáng và sau đó nhìn tôi như thế ông ta căm ghét tôi hơn bất kỳ ai khác trên đời này. Mà có lẽ đúng là thế thật. “Em có định nghe hay không đây?”

Tôi ngả người ra sau tựa vào tường.“Tôi đang nghe đây.”

“Thầy đã đến chỗ văn phòng của Helen Townsend,” ông ta nói. “Thầy đang tìm.” Ông ta có vẻ xấu hổ. “Một thứ gì đó của cô ấy. Của Katie. Thầy muốn… một thứ gì đó. Một thứ gì đó thầy có thể nắm trong tay…”

Ông ta đang cố gắng tranh thủ sự đồng tình của tôi.

“Và?” Nó không có hiệu quả.

“Thầy tìm chìa khóa tủ đựng hồ sơ. Thầy tìm trong ngăn kéo bàn của Helen và thấy nó.”

“Ông tìm thấy vòng tay của mẹ tôi trong bàn làm việc của cô Townsend?”.

Ông ta gật đầu. “Đừng hỏi thầy tại sao nó lại ở đó. Nhưng nếu hôm đấy bà ta đã đeo nó, vậy thì…”

“Cô Townsend,” tôi ngớ ngẩn nhắc lại.

“Thầy biết chuyện này nghe thật không hợp lý chút nào,” ông ta nói.

Chỉ có điều là nó hợp lý. Hoặc có thể hợp lý. Trong những hoàn cảnh ác nghiệt. Tôi chưa từng nghĩ đến khả năng bà ta cũng nằm trong diện tình nghi. Bà ta là một mụ già khốn kiếp cứng nhắc, tôi biết thế, nhưng tôi chưa bao giờ tưởng tượng ra bà ta lại gây tổn thương đến ai đó về mặt thể xác.

Mark nhìn tôi chằm chằm. “Có một chuyện thầy không hiểu. Bà ấy đã làm gì? Với Helen ấy? Mẹ em đã làm gì với Helen?”

Tôi không nói gì. Tôi quay mặt đi tránh ánh mắt ông ta. Một đám mây trôi qua ngay phía trước mặt trời và tôi cảm thấy lạnh toát cả người y như trong nhà ông ta sáng hôm đó, lạnh từ trong ra ngoài, lạnh khắp châu thân. Tôi bước tới chỗ bàn nhặt cái vòng tay lên, trượt nó qua những ngón tay đeo vào cổ tay.

“Đấy,” ông ta bảo. “Giờ thầy đã kể với em rồi. Thầy đã giúp được em đấy chứ, phải không? Giờ đến lượt em.”

Lượt của tôi. Tôi quay trở lại chỗ bức tường, cúi xuống nhặt cây đinh lên. Tôi xoay người lại đối mặt với ông ta.

“Lena,” ông ta nói, và từ cái cách ông ta thốt lên tên tôi, từ cái cách ông ta đang thở, nông và gấp, tôi có thể nói chắc chắn rằng ông ta đang sợ. “Thầy đã giúp em. Thầy…”

“Ông tưởng rằng Katie đã trầm mình bởi vì nó sợ sẽ bị tôi phản bội, hoặc vì sợ sẽ bị mẹ tôi phản bội - rằng ai đó sẽ lật tẩy cả hai người và rồi tất cả mọi người sẽ biết, và nó sẽ gặp rắc rối to, rồi bố mẹ nó sẽ suy sụp. Nhưng ông biết thừa sự thật không phải thế, đúng không?” Ông ta gục đầu xuống, hai bàn tay bấu lấy mép bàn. “Ông biết đó không phải lý do thật sự. Lý do là nó sợ những chuyện có thể xảy đến với ông.” Ông ta vẫn dán mắt vào cái bàn, ông ta không hề nhúc nhích. “Nó đã làm thế vì ông. Nó tự kết liễu cuộc đời vì ông. Ấy vậy mà ông đã làm gì cho nó?” Hai vai ông ta bắt đầu rung rung. “Ông đã làm gì? Ông đã nói dối và nói dối, ông hoàn toàn phủ nhận nó, như thể nó chẳng là gì với ông, như thể nó chẳng là người đặc biệt gì với ông. Ông không cho rằng nó xứng đáng với những điều tốt đẹp hơn à?”

Cầm theo cây đinh trong tay, tôi bước về phía cái bàn. Tôi có thể nghe thấy ông ta đang thổn thức, nức nở và nói xin lỗi. “Thầy xin lỗi, thầy xin lỗi, thầy xin lỗi.” ông ta nói. “Xin hãy tha thứ cho thầy. Xin Chúa hãy tha thứ cho con.”

“Hơi muộn cho chuyện đó rồi,” tôi nói. “Ông không nghĩ thế à?”

Sean

Tôi đi được nửa đường thì trời bắt đầu mưa, mới đầu chỉ là cơn mưa phùn nhẹ nhưng rồi đột nhiên ào ào như trút nước. Tầm nhìn gần như bằng không và tôi phải nhích từng chút một như bò trên đường. Một cảnh sát được phái đến ngôi nhà ở Howick gọi điện, và tôi bật loa ngoài nhận cuộc gọi.

“Ở đây chẳng có gì cả,” anh ta nói trên nền tiếng tín hiệu lạo xạo.

“Không có gì?”

“Ở đây không có ai. Có một chiếc ô tô - Vauxhall đỏ - nhưng không thấy dấu hiệu của anh ta.”

“Lena thì sao?”

“Không có dấu hiệu gì của ai trong hai người họ. Ngôi nhà bị khóa kín. Chúng tôi đang kiểm tra. Chúng tôi sẽ tiếp tục kiểm tra…”

Chiếc xe ở đó, nhưng họ thì không. Điều đó có nghĩa là họ phải đi bộ đến chỗ nào đó, và tại sao họ lại đi bộ? Xe hỏng sao? Nếu anh ta tới chỗ ngôi nhà và phát hiện ra anh ta không thể vào bên trong, không thể ẩn nấp ở đó - sao không cứ thế mà đột nhập vào nhỉ? Chắc chắn như thế sẽ tiện hơn nhiều so với bỏ chạy chứ? Trừ phi ai đó đã đón họ? Một người bạn chăng? Ai đó đang giúp anh ta? Có lẽ ai đó có thể giúp anh ta qua cơn nguy khốn, nhưng ta đang bàn đến một giáo viên trung học, không phải một tên tội phạm bình thường nào đó - tôi không thể tưởng tượng được anh ta lại có những người bạn thuộc dạng sẵn sàng dính líu đến một vụ bắt cóc.

Và tôi không chắc điều này khiến tôi cảm thấy khá hơn hay tệ hơn. Bởi vì nếu Lena không ở cùng chỗ với anh ta, chúng tôi không có chút manh mối nào về vị trí của con bé. Không ai từng nhìn thấy nó trong vòng gần hai mươi tư tiếng đồng hồ qua. Chỉ cần nghĩ đến điều đó thôi tôi cũng đã phát hoảng lên rồi. Tôi cần phải giữ cho con bé được an toàn. Xét cho cùng, tôi đã phụ lòng mẹ nó quá nhiều.

Tôi đã thôi gặp gỡ Nel sau sự cố với bố tôi. Thực ra, tôi chưa từng ở một mình với cô lần nào mãi cho tới sau cái chết của Katie Whittaker, và lúc đó là do tôi chẳng có lựa chọn nào khác. Tôi buộc phải hỏi chuyện cô, vì mối liên hệ của cô với Katie thông qua con gái cô, vì những lời cáo buộc mà Louise rêu rao khắp nơi.

Tôi thẩm vấn cô với tư cách một nhân chứng. Tất nhiên đó là một hành động thiếu chuyên nghiệp - rất nhiều cư xử của tôi trong năm vừa qua có thể được miêu tả bằng từ đó - nhưng một khi đã dính vào Nel thì dường như chuyện đó lại càng chẳng tài nào tránh được. Tôi chẳng thể làm gì khác.

Gặp lại cô, tôi không khỏi phần nào thấy lòng đau đớn, bởi vì tôi gần như ngay lập tức có cảm giác rằng Nel của ngày xưa, người phụ nữ từng mỉm cười chân thành đến thế, người đã khiến tôi sa vào lưới tình, đã bỏ bùa tôi, người ấy không còn đó nữa. Cô không biến mất hẳn mà thụt lùi, co lại thành một Nel khác, một người tôi không quen biết. Những tưởng tượng vẩn vơ của tôi - một cuộc đời mới, với cô và Lena, Helen bằng lòng ở lại phía sau - dường như trẻ con đến mức đáng xấu hổ. Cô Nel đã mở cửa cho tôi ngày hôm đó là một người phụ nữ khác, xa lạ và nằm ngoài tầm với.

Trong suốt cuộc thẩm vấn, cô luôn có vẻ cực kỳ áy náy, nhưng đó là một cảm giác áy náy không rõ ràng, không ra hình ra dạng. Nel vẫn tận tâm với tác phẩm của mình, cô khăng khăng rằng dự án Vũng Sông Chết Đuối không liên quan gì đến thảm kịch của Katie, tuy nhiên ở cô vẫn toát lên cảm giác tội lỗi, câu nào của cô cũng đều được mở đầu với Lẽ ra em nên hay Đáng lẽ bọn em phải hoặc Em đã không nhận ra. Nhưng lẽ ra cô nên làm cái gì, cô đã không nhận ra cái gì thì dường như chúng tôi chẳng làm rõ được. Giờ đây, với những gì đã biết, tôi chỉ có thể đoán chừng cảm giác áy náy của cô liên quan đến Henderson, rằng cô hẳn đã biết một điều gì đó, hoặc nghi ngờ gì đó, tuy nhiên lại chẳng làm gì cả.

Sau cuộc thẩm vấn, tôi để cô ở lại nhà Cối Xay để tới ngôi nhà nhỏ. Tôi chờ cô, chỉ biết hy vọng chứ cũng không dám trông đợi gì nhiều. Sau nửa đêm thì cô đến: không hoàn toàn bình tĩnh, mắt đẫm lệ, dễ xúc động. Sau đó, đến bình minh, khi cuối cùng chúng tôi cũng đã xong việc với nhau, chúng tôi đi ra bờ sông.

Nel đang trong tâm trạng kích động, gần như cuồng loạn. Cô trò chuyện với nhiệt huyết của một kẻ cuồng sự thật, bảo rằng cô đã chán kể các câu chuyện rồi, cô chỉ muốn sự thật. Sự thật, sự thật trọn vẹn, không gì ngoài sự thật. Tôi bảo cô, “Em biết quá rõ còn gì, phải không? Đôi khi, với những chuyện như thế này, chẳng có sự thật đâu mà tìm. Ta chẳng bao giờ biết được Katie nghĩ gì trong đầu.”

Cô lắc đầu. “Không phải thế, không phải chỉ như thế, không phải chỉ…” Tay trái cô tóm chặt tay tôi, bàn tay phải cô vẽ các vòng tròn lên mặt đất. “Tại sao,” cô thì thầm, không nhìn tôi, “bố anh lại giữ chỗ này? Tại sao ông ấy lại chăm sóc nơi này thường xuyên như thế?”

“Bởi vì…”

“Nếu đây là nơi mẹ anh đã đến, nếu đây là nơi bà ấy đã phản bội ông ấy, vậy thì tại sao, Sean? Nó chẳng hợp lý gì cả.”

“Anh không biết,” tôi nói. Chính tôi cũng bắn khoăn y như vậy, nhưng tôi chưa bao giờ hỏi bố. Chúng tôi không nhắc đến chuyện đó.

“Và còn người đàn ông này, người tình này: sao không ai biết tên ông ta? Sao không ai từng nhìn thấy ông ta?”

“Không ai à? Chỉ bởi vì anh không nhìn thấy ông ta, Nel…”

“Nickie Sage bảo em rằng không ai biết người đàn ông này là ai.”

“Nickie?” Tôi không thể không bật cười. “Em nói chuyện với Nickie à? Em nghe lời Nickie à?”

“Sao ai cũng phớt lờ những chuyện bà ấy nói vậy?” Cô gắt gỏng hỏi tôi. “Vì bà ấy già cả rồi hả? Vì bà ấy xấu xí hả?”

“Vì bà ta bị điên.”

“Phải rồi,” cô lẩm nhẩm một mình. “Bọn đàn bà khốn kiếp đều điên cả.”

“Ôi, thôi đi, Nel! Bà ta là đồ lừa đảo! Bà ta cứ nhất quyết rằng bà ta giao tiếp được với người chết.”

“Phải.” Cô xọc sâu ngón tay vào trong đất. “Phải, bà ấy là kẻ lừa đảo, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những chuyện bà ấy nói đều là dối trá. Anh sẽ ngạc nhiên đấy, Sean, nếu biết có bao nhiêu chuyện bà ấy nói rất có vẻ là sự thật.”

“Bà ta chỉ đoán mò thôi, Nel. Và trong trường hợp của em, bà ta thậm chí còn chẳng cần đoán mò. Bà ta biết em muốn gì từ bà ta, bà ta biết em muốn nghe gì.”

Cô rơi vào im lặng. Các ngón tay cô dừng chuyển động và rồi nó thoát ra từ cô, một tiếng thì thầm, một tiếng rít. “Tại sao Nickie lại cho rằng em muốn nghe chuyện mẹ anh đã bị giết?”

Lena

Không có chỗ cho cảm giác tội lỗi. Toàn bộ không gian đã bị lấp kín bởi sự nhẹ nhõm, nỗi đau thương, cái cảm giác nhẹ nhõm kỳ quái nảy sinh trong ta khi ta tỉnh khỏi cơn ác mộng và nhận ra nó không phải sự thực. Nhưng nó - cảm giác đó thậm chí còn sai, bởi vì cơn ác mộng vẫn là sự thực. Đúng là mẹ đã ra đi. Nhưng ít nhất mẹ đã không chọn ra đi. Mẹ đã không chọn rời bỏ tôi. Ai đó đã buộc bà làm thế - và đó mới là mấu chốt, bởi vì như vậy có nghĩa là tôi có thể làm gì đó về chuyện này, cho bà và cho tôi. Tôi có thể làm bất cứ điều gì cần thiết để đảm bảo rằng Helen Townsend phải trả giá.

Tôi vừa chạy dọc con đường mòn ven biển, vừa cài móc cái vòng tay của mẹ đeo trên cổ tay mình. Tôi rất sợ nó sẽ bị tuột ra và trượt khỏi vách đá xuống biển. Tôi những muốn nhét luôn nó vào trong miệng cho an toàn, như bọn cá sấu vẫn làm với lũ con.

Chạy trên con đường trơn trượt có vẻ thật nguy hiểm, vì tôi có thể bị ngã, nhưng đồng thời cũng lại an toàn - ta có thể nhìn ra rất xa về cả hai hướng trước sau, vậy nên tôi biết sau tôi không có ai. Dĩ nhiên là không có ai đằng sau tôi. Không có ai đang tới.

Không có ai đang tới vì tôi - không ai tới bắt tôi, không ai tới giúp tôi. Và tôi không mang theo điện thoại di động, chẳng làm thế quái nào đoán được nó ở trong nhà Mark hay trong xe của ông ta hay có phải ông ta đã lấy nó rồi ném đi mất, và giờ thì đâu có cơ hội để tôi hỏi ông ta, phải không?

Tôi không hơi đâu mà thấy tội lỗi. Tôi phải tập trung. Tôi có thể chạy tới tìm ai đây? Ai sẽ giúp tôi đây?

Tôi có thể thấy những tòa nhà cao tầng cách một đoạn ngắn về phía trước, và tôi bắt đầu guồng chân hăng hơn, nhanh hết mức có thể. Tôi cho phép mình tưởng tượng ra rằng người nào đó ở đấy sẽ biết phải làm gì, rằng người nào đó ở đấy sẽ có tất cả các câu trả lời.

Sean

Điện thoại của tôi rung lên trên giá đỡ, lôi phắt tôi trở về với hiện tại.

“Thanh tra?” Đó là Erin. “Anh đang ở đâu?”

“Đang trên đường tới bờ biển. Cô ở đâu? Louise có nói gì không?”

Một khoảng lặng dài nối tiếp, lâu đến nỗi tôi đã nghĩ chắc cô đã không nghe thấy tôi nói gì.

“Louise nó nói gì về Lena không?”

“Ờ… không.” Giọng cô không có vẻ chắc chắn cho lắm.

“Có chuyện gì vậy?”

“Nghe này, tôi cần nói chuyện với anh, nhưng tôi không muốn nói qua điện thoại…”

“Cái gì? Về Lena à? Nói luôn tôi nghe bây giờ đi, Erin, đừng vòng vo nữa.”

“Không phải chuyện khẩn cấp đâu. Không phải chuyện về Lena. Nó…”

“Vì Chúa, nếu không phải chuyện khẩn cấp thì cô gọi cho tôi làm gì?”

“Tôi cần nói chuyện với anh ngay khi anh quay trở lại Beckford,” cô nói. Giọng cô lạnh lùng và giận dữ. “Anh hiểu chứ?” Cô cúp máy.

Cơn mưa xối xả đã ngớt, tôi tăng tốc, vòng vèo men theo con đường hợp được che chắn hai bên bởi hai hàng rào cây cao. Tôi lại có cái cảm giác choáng váng đó, như thể đang lao quá nhanh trên một cái tàu lượn siêu tốc, đầu óc biêng biêng vì adrenaline. Tôi phóng vọt qua một vòm đá hẹp chạy xuống một con dốc, rồi lại lên cao khi con đường bò lên đỉnh đồi, và nó kia rồi: một hải cảng nhỏ, những thuyền đánh cá đang dập dềnh trên ngọn nước triều bồn chồn.

Ngôi làng chìm trong tĩnh lặng, có lẽ do thời tiết quá tệ. Vậy ra đây là Craster. Chiếc xe chạy chậm lại trong khi tôi thậm chí còn không ý thức được mình đang nhấn phanh. Vài khách bộ hành dày dạn quấn mình trong những chiếc áo khoác trùm đầu trông như chiếc lều đang bì bõm lội qua các vũng bùn trong lúc tôi lái xe về phía công viên. Tôi đi theo một cặp đôi trẻ tuổi đang chạy tìm chỗ trú, và gặp một nhóm các cụ hưu đang túm tụm bên những cốc trà trong quán cà phê. Tôi cho họ xem ảnh Lena và Mark, nhưng họ không nhìn thấy hai người này. Họ cho biết cách đây chưa đầy nửa tiếng đồng hồ, một cảnh sát mặc cảnh phục cũng đã hỏi họ rồi.

Lúc quay trở lại ô tô, tôi đi qua chính cái nhà hun khói mà mẹ tôi từng hứa sẽ đưa tôi đến ăn món cá trích muối hun khói. Tôi có hình dung ra khuôn mặt bà, như thỉnh thoảng tôi vẫn làm, nhưng chẳng bao giờ thành công. Có lẽ tôi muốn tái hiện nỗi thất vọng của bà khi nghe thấy tôi bảo tôi không muốn đến đây. Tôi muốn cảm nhận thấy nỗi đau, nỗi đau của bà hồi đó, nỗi đau của tôi bây giờ. Những ký ức đã bị khuất lấp dưới quá nhiều lớp bùn.

Tôi lái xe tầm nửa dặm tới Howick. Ngôi nhà tương đối dễ tìm - nó là ngôi nhà duy nhất ở đó, nằm cheo leo trên một đỉnh vách đá, trông ra biển. Như đã đoán trước, một chiếc Vauxhall màu đỏ đang đỗ ở phía sau. Cốp xe mở toang.

Lúc tôi lê người rời khỏi xe, hai bàn chân tôi nặng trĩu vì khiếp sợ, một cảnh sát đến cập nhật tình hình cho tôi - họ đang kiểm tra ở đâu, họ đã tìm thấy gì. Họ đang nói chuyện với một nhân viên tìm kiếm cứu nạn trên biển. “Biển động khá dữ dội, vậy nên nếu hai người họ có ai ở dưới đó thì thế nào cũng chỉ chớp nhoáng là sẽ bị cuốn ra xa,” anh ta nói. “Tất nhiên, chúng tôi không biết họ đã đến đây khi nào, hay…” Anh ta dẫn tôi tới chỗ chiếc xe và tôi ngó vào bên trong cốp. “Anh thấy đấy.” anh ta nói, “Có vẻ như ai đó đã ở trong này.” Anh ta chỉ vào vết máu trên thảm, một vết khác trên cửa sổ sau. Một sợi tóc vàng mắc vào ổ khóa, giống hệt sợi tóc được tìm thấy trong bếp.

Anh ta chỉ cho tôi thấy phần còn lại của hiện trường: những vết máu trên chiếc bàn ngoài vườn, trên tường, trên một cây đinh gỉ. Tôi đã phụ lòng con bé y như tôi đã y phụ lòng mẹ tôi. Không - mẹ của nó. Tôi đã phụ lòng nó y như tôi đã phụ lòng mẹ nó. Tôi có thể cảm thấy mình lại đang trôi dạt, cảm giác tôi đang mất tập trung, và rồi: “Thanh tra? Chúng tôi nhận được cuộc gọi. Một chủ cửa hàng trong ngôi làng bên cạnh phía thượng lưu. Báo rằng ông ta đang giữ một cô gái, ướt như chuột lột và hơi bầm giập, cô gái không biết cô ấy đang ở đâu, nhờ ông ta báo cảnh sát hộ.”

Có một chiếc ghế băng bên ngoài cửa hàng và con bé đang ngồi ở đó, đầu ngửa ra sau, mắt nhắm lại. Nó đang quấn người trong một chiếc áo khoác màu xanh sẫm to quá khổ. Khi xe dừng lại, nó mở mắt ra.

“Lena!” tôi nhảy ra khỏi xe chạy về phía con bé. “Lena!” Mặt con bé trắng bệch như ma, ngoại trừ một vết máu đỏ tươi trên má. Nó không nói gì, chỉ co rúm lại trên ghế như thể không nhận ra tôi, như thể nó không biết tôi là ai. “Lena, chú đây mà. Lena. Không sao đâu, chú đây mà.”

Khi vẻ mặt nó không hề thay đổi, khi tôi chìa tay ra và nó lại chỉ càng co rụt người vào sâu hơn, tôi nhận ra có gì đó không ổn. Nó thấy rõ tôi - nó không bị sốc, nó biết tôi là ai. Con bé biết tôi là ai và nó sợ tôi.

Tình cảnh này đột nhiên gợi lên trong tôi một ký ức - một biểu cảm tôi từng nhìn thấy trên mặt mẹ nó, và trên mặt của cô cảnh sát ấy, Jeannie, khi cô đưa tôi về nhà. Không chỉ là sợ hãi, mà còn một thứ khác nữa. Sợ hãi và không hiểu, sợ hãi và ghê tởm. Nó nhắc tôi nhớ đến cái ánh mắt thỉnh thoảng tôi vẫn dành cho chính bản thân, mỗi khi tôi trót nhẽ bắt gặp ánh mắt mình trong gương.

Jules

Sau khi Nickie bỏ đi, em lên tầng vào phòng chị. Giường chị đã bị lột sạch, vậy nên em tới chỗ tủ quần áo và lôi một chiếc áo khoác của chị ra, vải cashmere màu nâu nhạt, mềm mại và xa xỉ hơn bất kỳ món đồ nào em có thể mơ được sở hữu. Em quấn chiếc áo lên người mà vẫn cảm thấy lạnh hơn cả khi ở trong dòng nước. Em nằm trên giường chỉ một hồi lâu, cứng đờ và mệt rũ chẳng thể nào cử động được, em có cảm giác như thể vẫn đang đợi cho xương cốt mình ấm dần lên, cho máu em tuần hoàn thêm một lần nữa, để khởi động lại trái tim em. Em vẫn đợi nghe tiếng chị vang lên trong đầu, nhưng chị chỉ lặng im.

Xin chị đấy, Nel, em nghĩ, chị nói chuyện với em đi. Em đã xin lỗi rồi mà.

Em tưởng tượng ra lời đáp trả lạnh lùng của chị: Suốt ngần ấy thời gian, Julia. Điều duy nhất chị mong muốn là được nói chuyện với em. Và: Sao em có thể nghĩ như thế về chị? Sao em có thể nghĩ rằng chị đã lẳng lặng bỏ qua một vụ cưỡng hiếp, rằng chị đã lấy nó để chế nhạo em?

Em không biết, Nel. Em xin lỗi.

Vì vẫn không sao nghe thấy giọng chị, em bèn thay đổi chiến thuật. Vậy thì kể cho em nghe về Lauren đi. Kể cho em nghe về những phụ nữ phiền phức ấy đi. Kể cho em về Patrick Townsend đi. Kể cho em nghe xem lúc trước chị vẫn cố gắng nói với em chuyện gì đi. Nhưng chị chẳng chịu nói một lời. Em cơ hồ có thể cảm thấy rõ chị đang dằn dỗi.

Di động của tôi đổ chuông và trên màn hình màu xanh sáng, tôi nhìn thấy tên điều tra viên Morgan. Trong một thoáng, tôi không dám nhận cuộc gọi. Tôi biết làm sao đây nếu có chuyện gì đó đã xảy ra với Lena? Làm sao tôi có thể chuộc hết lỗi nếu con bé cũng đã ra đi? Tay run bần bật, tôi trả lời điện thoại. Và đây rồi! Tim tôi đã lại bơm máu bình thường, đẩy dòng máu ấm áp đến khắp tứ chi của tôi. Con bé đã an toàn! Lena đã an toàn. Họ đã tìm thấy con bé rồi. Họ đang mang nó về nhà.

Dường như phải sau cả thế kỷ, hết giờ này qua giờ khác, em mới nghe thấy tiếng của xe ô tô đóng sầm lại bên ngoài nhà, để em có thể bừng tỉnh táo trở lại, ngồi bật dậy ném cái áo khoác của chị đi rồi chạy xuống tầng. Erin đã có mặt sẵn ở đó, đứng dưới chân cầu thang, dõi nhìn Sean giúp Lena ra khỏi xe.

Con bé đang choàng chiếc áo khoác nam trên vai, mặt tái nhợt và bẩn thỉu. Nhưng nó vẫn còn nguyên vẹn. Nó đã an toàn. Nó ổn. Chỉ có điều khi nó ngước mắt lên bắt gặp ánh mắt tôi, tôi nhận ra đó là điều dối trá.

Con bé bước rón rén, thận trọng đặt từng bước chân, và tôi biết cảm giác ấy là như thế nào. Hai cánh tay con bé vòng quanh người như muốn bảo vệ bản thân, khi Sean chìa tay ra định dẫn con bé vào nhà, nó rụt người lại. Tôi nghĩ đến gã đàn ông đã bắt cóc con bé, nghĩ đến những việc anh ta hẳn đã muốn làm. Dạ dày tôi nhộn nhạo và tôi nếm thấy vị ngọt của vodka pha cam, cảm thấy hơi thở nóng hổi phả trên mặt mình, sức ép của những ngón tay dai dẳng trên lớp thịt mềm.

“Lena,” tôi nói, và con bé gật đầu với tôi. Tôi nhìn ra vết lem trên mặt con bé tôi cứ tưởng là đất nhưng hóa ra là máu, ứa ra từ miệng và cằm nó. Tôi với tay tìm bàn tay con bé, nhưng nó chỉ càng ôm lấy chính mình chặt hơm, vậy nên tôi theo nó đi lên cầu thang. Giữa hành lang, tôi và nó đối mặt với nhau. Con bé lắc mình hất cái áo khoác ra và để mặc cho nó rơi trên sàn. Tôi cúi người định nhặt, nhưng Erin đã nhanh tay hơn. Cô cầm nó lên đưa cho Sean, và một điều gì đó trôi qua giữa họ - một biểu cảm tôi không sao xác định được, gần như là giận dữ.

“Anh ta đâu?” tôi rít lên với Sean. Lena đang cúi người trên bồn rửa, uống nước trực tiếp từ vòi. “Henderson đâu?” Tôi có một thôi thúc giản dị, hoang dại là có thể khiến cho anh ta, gã đàn ông đã đảm nhiệm một vị trí giành được sự tin tưởng và rồi đã lạm dụng nó, phải chịu đau đớn. Tôi muốn tóm lấy anh ta, bẻ xương róc thịt anh ta, xử với anh ta theo đúng cách những gã đàn ông như thế đáng phải chịu.

“Chúng tôi đang tìm anh ta,” anh ta nói. “Chúng tôi đã cử người tìm anh ta rồi.”

“Ý anh là sao, đang tìm anh ta à? Chẳng phải con bé cùng với anh ta sao?”

“Đúng vậy, nhưng…”

Lena vẫn đang cúi người bên bồn rửa, uống nước ừng ực.

“Các anh đã đưa con bé tới bệnh viện chưa?” tôi hỏi Sean.

Anh ta lắc đầu. “Vẫn chưa. Lena đã nói rất rõ con bé không muốn vào viện.”

Có gì đó ở nét mặt anh ta khiến tôi không thích, vẻ giấu giếm gì đó.

“Nhưng…”

“Cháu không cần đến bệnh viện đâu,” Lena nói, đứng thẳng dậy và lau miệng. “Cháu không bị thương. Cháu ổn cả.”

Con bé đang nói dối. Tôi biết đích xác con bé đang nói dối theo kiểu nào bởi vì chính tôi cũng từng nói những lời dối trá đó. Lần đầu tiên, em nhìn thấy chính mình trong con bé, không phải trong chị. Vẻ mặt con bé trộn lẫn giữa sợ hãi và bất chấp; tôi có thể nhìn ra con bé đang bám chặt lấy bí mật của nó như thể đó là một tấm khiên. Ta tưởng rằng nỗi đau sẽ giảm, nỗi hổ nhục sẽ nhẹ nhàng hơn, nếu không người nào khác có thể nhìn thấy.

Sean nắm cánh tay tôi kéo tôi ra khỏi phòng. Rất khẽ khàng, anh ta nói, “Con bé nhất quyết đòi về nhà trước. Chúng tôi không thể ép nó đi khám nếu nó không muốn. Nhưng cô phải đưa nó đi. Ngay khi có thể.”

“Vâng, tất nhiên rồi. Nhưng tôi vẫn không hiểu sao các anh không giữ anh ta. Anh ta đang ở đâu? Henderson đâu?”

“Ông ta đi rồi,” Lena nói, đột nhiên xuất hiện bên cạnh tôi. Những ngón tay của con bé sượt qua ngón tay tôi, chúng có vẻ lạnh ngắt y như ngón tay mẹ nó vào lần cuối cùng tôi chạm vào.

“Đi đâu?” tôi hỏi. “Cháu bảo đi rồi nghĩa là sao?”

Con bé không nhìn tôi. “Thì đi rồi thôi.”

Sean Townsend nhướng một bên mày. “Chúng tôi đang cử cảnh sát tìm kiếm rồi. Xe của anh ta vẫn ở đó, vậy nên anh ta không thể đi xa được.”

“Theo cháu thì anh ta đã đi đâu, Lena?” tôi hỏi, cố nhìn vào mắt con bé, nhưng nó cứ tránh mắt đi chỗ khác.

Sean lắc đầu, vẻ mặt rầu rĩ. “Tôi đã thử rồi,” anh ta nhẹ nhàng nói. “Con bé không muốn nói chuyện. Có lẽ con bé chỉ mệt mỏi quá thôi.”

Những ngón tay của Lena bao quanh những ngón tay tôi, hơi thở của con bé thoát ra thành một tiếng thở dài thườn thượt. “Cháu mệt thật. Cháu chỉ muốn ngủ thôi. Chúng ta làm việc này vào ngày mai được không, chú Sean? Cháu buồn ngủ chết đi được.”

Các điều tra viên tạm biệt chúng tôi sau khi cam đoan rằng họ sẽ trở lại; Lena cần đưa lời khai chính thức. Tôi nhìn họ tiến tới chỗ ô tô của Sean. Khi Erin đã yên vị trên ghế hành khách, cô sập cửa lại mạnh đến nỗi tôi thấy lạ là cửa sổ xe không vỡ tan.

Lena gọi tôi từ trong bếp.

“Cháu đang chết đói đây,” con bé nói. “Dì lại làm spaghetti Bolognese được không, giống như dì đã làm hôm trước ấy?” Giọng điệu con bé, sự dịu dàng trong đó, thật mới mẻ; nó cũng bất ngờ, như cái chạm tay của con bé vậy.

“Tất nhiên là được chứ,” tôi nói. “Dì làm ngay đây.”

“Cảm ơn dì. Cháu chỉ lên nhà một lát thôi, cháu phải đi tắm đã.”

Tôi đặt tay lên cánh tay con bé. “Lena, đừng. Cháu không làm thế được. Cháu phải đi bệnh viện trước đã.”

Con bé lắc đầu. “Không, cháu không cần đi thật mà, cháu không bị thương.”

“Lena.” Tôi không thể nhìn vào mắt con bé khi nói câu này. “Cháu phải khám xong rồi mới được tắm.”

Con bé có vẻ hoang mang một lúc, rồi nó sụm vai xuống, lắc đầu bước về phía tôi. Dẫu rằng không muốn, tôi vẫn khóc òa. Con bé quàng hai cánh tay quanh người tôi. “Không sao đâu,” nó nói. “Không sao đâu, không sao đâu.” Giống y như chị vậy, vào cái đêm sau chuyện dòng nước. “Ông ta không làm gì cháu kiểu như thế đâu. Không phải như thế đâu. Dì không hiểu, ông ta không phải nói thế nào nhỉ, gã yêu râu xanh độc ác. Ông ta chỉ là một lão già sầu bi thôi.”

“Ôi, ơn Chúa!” tôi nói. “Ơn Chúa, Lena!” Hai dì cháu cứ đứng như thế, ôm chầm lấy nhau, một hồi lâu cho tới khi tôi ngùng khóc còn con bé bắt đầu. Con bé nức nở như đứa trẻ, tấm thân gầy guộc sụp xuống, trượt qua hai cánh tay tôi rơi xuống sàn. Tôi cúi xuống cạnh con bé và cố nắm tay nó, nhưng tay con bé đã co chặt lại thành một nắm đấm.

“Mọi chuyện rồi sẽ ổn cả thôi,” tôi bảo nó. “Bằng cách nào đó nó sẽ ổn cả thôi. Dì sẽ chăm sóc cháu.”

Con bé nhìn tôi, không nói năng gì; dường như con bé không tài nào cất được nên lời. Thay vào đó, nó chìa tay ra, những ngón tay mở ra để lộ kho báu bên trong - một vòng tay nhỏ bằng bạc có móc gài bằng mã não - và rồi con bé đã tìm lại được giọng nói.

“Không phải mẹ cháu tự nhảy xuống đâu” con bé nói, mắt long lanh. Tôi cảm thấy nhiệt độ trong phòng đột ngột hạ xuống. “Không phải mẹ chủ động rời bỏ cháu. Không phải mẹ cháu tự nhảy xuống đâu.”

Lena

Tôi đứng rất lâu dưới vòi hoa sen, vặn nước nóng hết mức tôi có thể chịu được. Tôi muốn gột tẩy làn da, tôi muốn toàn bộ ngày vừa qua đêm vừa qua và tuần và tháng vừa qua gột sạch khỏi người tôi. Tôi muốn ông ta bị lột sạch khỏi người tôi, căn nhà bẩn thỉu của ông ta và những nắm đấm của ông ta và mùi hôi của ông ta, hơi thở ông ta, máu của ông ta.

Julia đã rất ân cần với tôi khi tôi về nhà. Dì ấy không giả vờ, rõ ràng dì mừng vì tôi đã quay về, dì đã lo lắng cho tôi. Có vẻ như dì tưởng rằng Mark đã xâm hại tôi, cũng như có lẽ dì cho rằng ông ta là một kẻ thuộc dạng đồi trụy không thể giữ cho đôi tay tránh xa các cô gái tuổi teen. Tôi sẽ đồng ý với ông ta ở chuyện này: ông ta đã đúng ở một điểm - mọi người không hiểu chuyện giữa ông ta và K, họ sẽ chẳng bao giờ hiểu.

(Có một phần nhỏ xíu, méo mó trong tôi phần nào mong rằng tôi có thể tin vào kiếp sau, rằng hai người họ lại có thể tìm đến với nhau, và có thể mọi chuyện với họ sẽ ổn cả, K sẽ hạnh phúc. Dẫu căm ghét ông ta đến thế, tôi vẫn muốn nghĩ rằng bằng cách nào đó Katie có thể được hạnh phúc.)

Khi đã cảm thấy sạch sẽ, hoặc ít nhất cũng gần sạch sẽ đến mức tôi cho rằng chấp nhận được, tôi về phòng ngồi trên bệ cửa sổ, vì đó là nơi giúp tôi suy nghĩ thấu suốt nhất. Tôi châm thuốc lá và có hình dung xem nên làm gì. Tôi muốn hỏi mẹ, tôi khát khao mong được hỏi ý kiến mẹ, nhưng tôi không thể nghĩ đến chuyện đó được vì tôi sẽ chỉ òa khóc thêm lần nữa, và như thế thì có gì tốt với bà chứ? Tôi không biết liệu có nên kể cho di Julia nghe chuyện Mark đã nói với tôi không. Liệu tôi có thể tin tưởng rằng dì sẽ làm điều đúng đắn.

Có lẽ là được. Khi tôi bảo dì Julia rằng không phải mẹ tôi tự nhảy xuống, tôi những tưởng dì sẽ bảo rằng tôi đã nhầm hoặc điện hoặc sao sao đó, nhưng dì cứ thế chấp nhận nó. Không cật vấn. Như thể dì đã sớm biết. Như thể dì vẫn luôn biết.

Tôi thậm chí còn chẳng biết liệu chuyện vớ vẩn Mark kể với tôi có thật hay không, mặc dù đi bịa ra một chuyện như thế thì cũng kỳ cục quá. Việc gì phải chĩa mũi dùi vào Cô Townsend, trong khi còn những người hiển nhiên hơn để đổ tội chứ? Chẳng hạn như Louise. Nhưng có lẽ sau những gì đã gây ra cho họ, ông ta tương đối thấy áy náy với gia đình Whittaker rồi.

Tôi không biết ông ta nói dối hay nói thật, nhưng dù sao thì ông ta cũng xứng đáng với những gì tôi đã nói với ông ta, đã làm với ông ta. Ông ta xứng đáng với tất cả những gì ông ta phải nhận.

Jules

Khi Lena trở lại tầng dưới, cả mặt lẫn hai bàn tay đều đã được chà rửa sạch sẽ, con bé ngồi xuống bàn bếp ăn ngấu nghiến. Sau đó, khi con bé mỉm cười nói cảm ơn dì, tôi không khỏi rùng mình, vì giờ khi đã nhìn thấy nó, tôi không thể xua hình ảnh đó đi được. Con bé mang nụ cười của bố nó.

(Con bé, tôi thầm hỏi, liệu còn mang theo nét gì của anh ta nữa?)

“Sao vậy ạ?” Lena đột nhiên hỏi. “Dì cứ nhìn cháu chằm chằm ấy.”

“Dì xin lỗi,” tôi nói, mặt dần đỏ lên. “Dì chỉ… Dì mừng là cháu đã về nhà. Dì mừng là cháu đã an toàn.”

“Cháu cũng vậy.”

Tôi lưỡng lự một lát rồi tiếp tục. “Dù biết cháu đang mệt, nhưng dì cần hỏi cháu, Lena, về chuyện đã xảy ra hôm nay. Về cái vòng tay.”

Con bé quay mặt đi hướng về phía cửa sổ. “Vâng. Cháu biết.”

“Mark giữ nó à?” Con bé lại gật đầu. “Và cháu đoạt nó từ anh ta?”

Con bé thở dài. “Ông ta đưa nó cho cháu.”

“Tại sao anh ta lại đưa nó cho cháu? Tại sao lúc đầu anh ta lại có nó?”

“Cháu không biết.” Con bé quay đầu lại đối diện tôi, đôi mắt thất thần, chớp chớp. “Ông ta bảo đã tìm thấy nó.”

“Anh ta tìm thấy nó? Ở đâu?” Con bé không trả lời. “Lena, chúng ta cần tới đồn cảnh sát về chuyện này, chúng ta phải kể với họ.”

Con bé đứng dậy mang đĩa đến chỗ bồn rửa. Quay lưng lại phía tôi, con bé nói, “Chúng cháu đã thỏa thuận rồi.”

“Thỏa thuận?”

“Rằng ông ta sẽ đưa cho cháu chiếc vòng của mẹ và thả cháu về nhà,” con bé nói, “chỉ cần cháu khai với cảnh sát là cháu đã nói dối về chuyện giữa ông ta và Katie.” Giọng con bé nhẹ tênh đến phi lý trong lúc nó tự làm mình bận rộn với đống bát đĩa.

“Và anh ta tin rằng cháu sẽ làm thế?” Con bé nhô đôi vai xương xẩu lên phía tai. “Lena. Nói thật cho dì nghe đi. Cháu có nghĩ… cháu có tin rằng Mark Henderson chính là người đã giết mẹ cháu không?”

Con bé quay lại nhìn thẳng vào tôi. “Cháu đang nói thật. Và cháu không biết. Ông ta bảo ông ta lấy nó từ văn phòng của cô Townsend.”

“Helen Townsend?” Lena gật đầu. “Vợ Sean? Hiệu trưởng của cháu? Nhưng tại sao cô ta lại có chiếc vòng? Dì không hiểu…”

“Cháu cũng không,” con bé khẽ nói. “Không hiểu lắm.”

Tôi pha trà và hai dì cháu ngồi bên nhau ở bàn bếp, lặng lẽ nhấm nháp đồ uống. Tôi cầm chiếc vòng tay của Nel. Lena ngồi buông thõng chân tay, đầu cúi xuống, ủ rũ thấy rõ trước mặt tôi. Tôi với tay ra, sượt tay qua các ngón tay của con bé.

“Cháu kiệt sức rồi,” tôi nói. “Cháu nên đi ngủ đi.”

Con bé gật đầu, ngước nhìn tôi bằng đôi mắt thâm quầng. “Di lên trên cùng cháu được không? Cháu không muốn ở một mình.”

Em theo con bé lên tầng trên và vào phòng chị, không phải phòng nó. Con bé leo lên giường chị, ngả đầu trên gối, vỗ vỗ xuống bên cạnh.

“Hồi cháu và mẹ mới chuyển đến đây,” con bé nói, “cháu không thể ngủ một mình được.”

“Tiếng ồn hả?” em hỏi, leo lên giường nằm cạnh nó và phủ chiếc áo khoác của chị lên đắp cho cả hai.

Con bé gật đầu. “Tiếng cọt kẹt và rên rỉ ấy…”

“Và cả những câu chuyện kinh dị của mẹ cháu nữa?”

“Chính xác. Cháu thường vào đây ngủ cạnh mẹ suốt.”

Một cục nghẹn dâng lên trong cổ họng tôi, một viên sỏi. Tôi không nuốt xuống được. “Dì cũng thường làm thế với mẹ dì.”

Con bé đã ngủ thiếp đi. Em vẫn ở cạnh con bé, nhìn xuống khuôn mặt nó, trong giấc ngủ đích xác là mặt chị. Em muốn chạm vào con bé, vuốt tóc nó, làm một hành động mang tình mẫu tử nào đó với nó, nhưng em không muốn làm nó thức giấc, hay đánh động nó, hay làm gì đó sai. Em không biết cách làm mẹ. Cả đời em chưa từng chăm sóc một đứa trẻ nào. Em ước gì chị sẽ nói, ước gì chị sẽ bảo cho em biết phải làm gì, phải cảm thấy ra sao. Trong lúc con bé nằm cạnh em, hình như em đã có cảm giác âu yếm, nhưng đó là cảm giác đối với chị, và với mẹ chúng ta, và lúc đôi mắt xanh lục của con bé chớp chớp mở ra nhìn thẳng vào mắt em, em rùng cả mình.

“Sao dì cứ nhìn cháu theo kiểu đấy thế?” con bé thì thầm, nửa cười nửa không. “Kỳ quặc lắm ấy.”

“Dì xin lỗi,” tôi nói, lăn người nằm ngửa ra.

Con bé đan tay vào tay tôi. “Không sao đâu,” con bé nói. “Kỳ quặc cũng không sao mà. Kỳ quặc cũng có thể hay ho mà.”

Di cháu tôi nằm đó, vai kề vai, những ngón tay đan vào nhau. Tôi lắng nghe hơi thở con bé chậm rãi, rồi nhanh hơn, rồi lại chậm rãi.

“Dì biết không, điều khiến cháu không hiểu,” con bé thì thầm, “là tại sao dì lại ghét mẹ cháu đến thế.”

“Dì không…”

“Mẹ cũng không hiểu.”

“Dì biết,” tôi nói. “Dì biết mẹ cháu không hiểu.”

“Dì đang khóc này,” con bé thì thầm, với tay lên chạm vào mặt tôi. Nó lau nước mắt trên má tôi.

Em đã kể cho con bé. Tất cả những chuyện nhẽ ra em nên kể với chị, thay vào đó em đã kể chúng với con gái chị. Em kể cho con bé em đã khiến chị thất vọng, em đã tin tưởng những điều xấu xa nhất về chị ra sao, em đã cho phép mình đổ lỗi cho chị thế nào.

“Nhưng tại sao dù không kể luôn với mẹ cháu? Sao dì không kể với mẹ cháu chuyện gì đã thật sự xảy ra?”

“Chuyện phức tạp lắm,” tôi nói, và tôi cảm thấy con bé cứng người lại bên cạnh.

“Phức tạp thế nào cơ? Có thể phức tạp đến mức nào chứ?”

“Bà ngoại cháu đang hấp hối. Ông bà ngoại cháu đang trong thời kỳ khủng hoảng và dì không muốn làm gì khiến cho tình hình trở nên tồi tệ hơn.”

“Nhưng… nhưng ông ta đã cưỡng hiếp dì,” con bé nói. “Đáng lẽ ra ông ta phải bị tống vào tù.”

“Dì đã không nhìn nhận sự việc theo cách đó. Hồi đó dì còn quá trẻ. Hồi đó dì trẻ con hơn cháu bây giờ nhiều, và dì không chỉ nói thế theo nghĩa tuổi tác đâu, mặc dù đúng là tuổi dì cũng nhỏ hơn thật. Nhưng dì còn ngây thơ, hoàn toàn không có kinh nghiệm, dì chẳng biết phải làm gì. Thời ấy, chúng ta không bàn về sự ưng thuận theo cách con gái các cháu vẫn nói bây giờ đâu. Dì cứ tưởng…”

“Dì tưởng chuyện ông ta đã làm không có gì sai?”

“Không, nhưng có lẽ dì không nhìn nhận nó theo đúng tính chất của nó. Đúng với thực chất của vấn đề. Dì nghĩ cưỡng hiếp là chuyện một gã đàn ông xấu xa làm với ta, một gã đàn ông nhảy xổ vào ta giữa ngõ hẻm lúc đêm hôm khuya khoắt, một gã đàn ông kề dao vào cổ ta. Dì không nghĩ đó là loại chuyện đám trai trẻ sẽ làm. Không phải những nam sinh như Robbie, không phải những cậu trai ưa nhìn, những cậu trai hẹn hò với cô gái xinh đẹp nhất vùng. Dù không nghĩ đó là loại chuyện họ làm với ta trong phòng khách nhà ta, dù không nghĩ đó là loại chuyện sau đó họ sẽ bàn đến với ta, hỏi ta rằng có phải ta đã được sung sướng không. Dì chỉ nghĩ rằng hẳn dì đã làm gì đó sai lầm, rằng dì đã không tỏ thái độ từ chối một cách đủ rõ ràng.”

Lena im lặng một lát, nhưng khi lên tiếng trở lại, giọng con bé cao hơn, kiên quyết hơn. “Được rồi, có thể tại thời điểm đó dì đã không muốn nói gì, nhưng sau đó thì sao? Tại sao sau đó dì lại không giải thích mọi chuyện với mẹ?”.

“Vì dì đã hiểu nhầm mẹ cháu,” tôi nói. “Dì đã hoàn toàn nghĩ sai về mẹ cháu. Dì cứ tưởng mẹ cháu biết chuyện gì đã xảy ra tối đó.”

“Dì tưởng rằng mẹ đã biết và không làm gì? Sao dì có thể nghĩ thế về mẹ?”.

Làm sao em có thể giải thích được? Rằng em đã chắp vá lời lẽ của chị - những lời chị đã nói với em tối đó và những lời chị đã nói với em sau đó, Chẳng phải phần nào đó trong em cũng thấy thích thú à? - và em đã tự kể với mình một câu chuyện về chị mà em cảm thấy hợp lý, một câu chuyện cho phép em tiếp tục sống mà không cần đối diện với những chuyện đã thật sự xảy ra.

“Dì tưởng mẹ cháu đã lựa chọn bảo vệ anh ta,” tôi thì thầm. “Dì tưởng mẹ cháu chọn anh ta thay vì dì. Dì không thể đổ lỗi cho anh ta, bởi vì dì thậm chí còn không thể nghĩ về anh ta. Nếu dì đổ lỗi cho anh ta và nghĩ về anh ta, dì sẽ khiến cho nó trở nên chân thực. Vậy nên dì chỉ… Thay vào đó dì nghĩ về Nel.”

Giọng Lena trở nên lạnh lùng hơn. “Cháu không hiểu dì. Cháu không hiểu những người giống như dì, những người luôn chọn cách đổ lỗi cho người phụ nữ. Nếu có hai người làm chuyện sai trái và trong đó có một cô gái, vậy thì lỗi lầm hẳn phải thuộc về cô ấy, đúng không?”

“Không, Lena, không phải như thế, nó không…”

“Có đấy, nó đúng là thế đấy. Giống như khi ai đó ngoại tình, tại sao người vợ lại luôn căm ghét người phụ nữ kia? Tại sao bà ta không căm ghét chồng mình? Ông ta mới chính là kẻ đã phản bội bà ta, ông ta mới chính là kẻ đã nguyện thề mãi mãi yêu thương bà ta, bảo bọc bà ta và gì gì đó nữa. Tại sao kẻ bị đẩy ra khỏi một cái vách đá chết giẫm kia lại không phải chính ông ta?”

THỨ BA, 25 THÁNG TÁM **

* * *

*Erin*

Tôi rời căn nhà nhỏ từ sớm, chạy lên phía thượng nguồn sông. Tôi muốn tránh xa Beckford, để thanh tĩnh đầu óc, nhưng mặc dù không khí đã được trận mưa gột rửa và bầu trời xanh ngắn ngắt, màn sương mù trong đầu tôi vẫn càng lúc càng tối sầm, càng u ám. Ở cái chốn này, chẳng có cái gì hợp lý cả.

Lúc Sean và tôi tạm biệt Jules và Lena ở nhà Cối Xay hôm qua, tôi giận dữ tột độ, và tôi giận điên lên với anh ta đến độ cứ thế mà xả ra, ngay trong xe. “Rốt cuộc thì có chuyện gì giữa anh và Nel Abbott vậy hả?”

Anh ta giậm chân lên phanh mạnh đến độ tôi tưởng mình sẽ bay xuyên qua kính chắn gió. Chúng tôi dừng lại giữa đường, nhưng Seen có vẻ chẳng quan tâm. “Cô nói gì?”

“Anh có định tấp vào lề không?” tôi hỏi, kiểm tra gương chiếu hậu, nhưng anh ta không có ý định đấy. Tôi cảm thấy mình chẳng khác gì con ngốc vì đã nói thẳng tuột ra như thế, chẳng hề rào trước đón sau, chẳng thèm thăm dò gì hết.

“Cô đang đặt câu hỏi về tính chính trực của tôi đấy à?” Mặt anh ta toát lên một biểu cảm tôi chưa thấy bao giờ, một vẻ cứng rắn tôi chưa từng phải đương đầu. “Hả? Có phải vậy không?”

“Người ta đã ám chỉ với tôi,” tôi nói, giữ giọng bình tĩnh, “bóng gió về…”

“Bóng gió?” Anh ta có vẻ hoài nghi. Một chiếc ô tô con đằng sau chúng tôi bấm còi inh ỏi và Sean lại giậm lên chân ga. “Ai đó bóng gió chuyện gì đó, phải không? Và cô cho rằng chất vấn tôi về chuyện đó cũng thích đáng thôi?”

“Sean, tôi…”

Chúng tôi đã đến bãi đỗ xe bên ngoài nhà thờ. Anh ta tấp xe vào lề, vươn người qua người tôi và mở cửa xe ra. “Cô đã xem hồ sơ công tác của tôi chưa, Erin?” anh ta hỏi, “Bởi vì tôi đã xem của cô rồi.”

“Thanh tra, tôi không có ý xúc phạm anh, nhưng…”

“Ra khỏi xe.”

Tôi gần như còn chưa kịp đóng cửa xe cho tử tế thì anh ta đã tăng tốc phóng đi.

Lúc leo được lên ngọn đồi phía Bắc căn nhà nhỏ, tôi đã thở không ra hơi; tôi dừng lại trên đỉnh đồi để điều hòa hơi thở. Trời vẫn còn sớm - còn chưa tới bảy giờ - toàn bộ thung lũng là của tôi. Của tôi, một cách toàn bích và yên bình. Tôi duỗi chân khởi động và sẵn sàng cho chuyến đổ dốc. Tôi cảm thấy mình cần chạy nước rút, cần lao như bay, cần làm mình kiệt sức. Chẳng phải đó là cách để tìm được sự rõ ràng hay sao?

Sean đã phản ứng như một kẻ phạm tội. Hoặc như một người bị xúc phạm. Một người nghĩ rằng sự chính trực của anh ta đã bị chất vấn một cách vô cớ. Tôi tăng tốc. Khi anh ta mỉa mai tôi về chuyện hồ sơ công tác của chúng tôi, anh ta cũng có ý cả. Hồ sơ của anh ta thì không tì vết, tôi thì suýt chút nữa đã bị sa thải vì đã ngủ với một đồng nghiệp trẻ tuổi hơn. Giờ tôi đang chạy nước rút, guồng chân hết cỡ phóng xuống đồi, mắt tôi dán chặt vào con đường mòn, những cây kim tước bên rìa tầm nhìn chỉ là một vệt nhòa. Anh ta có hồ sơ bắt giữ tội phạm ấn tượng, anh ta được đồng nghiệp vô cùng kính trọng. Anh ta, nói như Louise, là một người đàn ông tốt. Tôi vấp chân phải vào một tảng đá nằm giữa đường và ngã nhào. Tôi nằm trên mặt đất, Cố lấy lại hơi, dường như không tài nào thở nổi. Sean Townsend là một người đàn ông tốt.

Có vô khối người như thế ở quanh ta. Bố tôi là một người đàn ông tốt. Ông là một cảnh sát có trách nhiệm. Nhưng điều đó cũng chẳng ngăn ông đánh tôi và các anh em trai của tôi đến thừa sống thiếu chết. Khi mẹ tôi phàn nàn với một đồng nghiệp của ông sau khi ông đánh vỡ mũi thằng em út của tôi, người đồng nghiệp kia nói, “Có một lằn ranh xanh mỏng manh, bà chị thân mến ạ, và tôi e là chị đừng nên vượt qua nó.”

Tôi chật vật nâng mình dậy, phủi đất bám trên người. Tôi chẳng thể nói gì. Tôi có thể ở nguyên bên phía thích hợp của lằn xanh mong manh, tôi có thể phớt lờ những bóng gió và gợi ý của Louise, tôi có thể phớt lờ khả năng Sean có mối liên hệ cá nhân với Nel Abbott. Nhưng nếu tôi làm thế, tôi sẽ phớt lờ cả cái thực tế rằng nơi nào có tình dục, nơi ấy có động cơ. Anh ta có động cơ loại bỏ Nel, và cả vợ anh ta cũng vậy. Tôi nghĩ đến vẻ mặt cô ta hôm tôi nói chuyện với cô ta ở trường, cách cô ta nói về Nel, về Lena. Cô ta đã khinh bỉ cái gì nhỉ? Vẻ mơi hàng dai dẳng đến khó chịu của con bé?

Tôi đã xuống đến chân dốc và đi vòng quanh bụi kim tước; căn nhà nhỏ chỉ cách đây vài trăm mét và tôi có thể thấy đang có người bên ngoài. Một dáng người, mập mạp và còng lưng, trong chiếc áo khoác sẫm màu. Không phải Patrick cũng không phải Sean. Lúc tiến lại gần hơn, tôi nhận ra chính là bà già quái dị đó, bà đồng đó, Nickie Sage khùng.

Bà ta đang tựa người vào bức tường nhà, mặt tím tái. Trông bà ta như thể sắp lên cơn đau tim.

“Bà Sage!” tôi gọi lớn. “Bà không sao chứ?”

Bà ta ngước lên nhìn tôi, thở nặng nhọc, và đẩy cái mũ nhung mềm ngược lên trên trán. “Tôi không sao,” bà ta nói, “mặc dù đã khá lâu rồi tôi không đi bộ xa đến thế này.” Bà ta nhìn tôi khắp lượt từ trên xuống dưới. “Có vẻ như cô vừa chơi giữa một bãi rác.”

“Ồ, vâng,” tôi nói, hoài công cố gắng phải những vết bùn đất còn lại ra khỏi người. “Bị ngã vớ vẩn ấy mà.”

Bà ta gật đầu. Lúc bà ta đứng thẳng người lên, tôi có thể nghe thấy tiếng bà ta thở khò khè. “Bà muốn vào trong ngồi một lát không?”

“Trong kia hả?” Bà ta hất đầu về phía căn nhà nhỏ. “Chắc là không đâu.” Bà ta bước vài bước lùi xa khỏi cửa trước. “Cô có biết từng có chuyện gì xảy ra trong đó không? Cô có biết Anne Ward đã làm gì không?”

“Bà ta đã giết chồng” tôi đáp. “Và rồi trầm mình tự tử, ngay dòng sông chỗ kia.”

Nickie nhún vai, lạch bạch về phía bờ sông. Tôi theo sau bà ta. “Trừ tà thì đúng hơn là giết người, nếu cô hỏi tôi. Bà ta đã loại bỏ linh hồn xấu xa chiếm giữ người đàn ông đó. Nó đã rời khỏi ông ta, nhưng nó không rời khỏi chốn đó, phải không? Cô có bị khó ngủ ở đó không?”

“Chà, tôi…”

“Không hề bất ngờ. Không có gì bất ngờ cả. Lẽ ra tôi đã có thể kể cô biết việc đó - dù không chắc cô sẽ chịu nghe tôi. Nơi đó đầy những thứ xấu xa. Cô nghĩ tại sao Townsend lại coi chỗ này như của ông ta chứ, chăm sóc nó như thể là chốn đặc biệt của ông ta.”

“Tôi không biết, tôi nói. “Tôi nghĩ ông ấy dùng nó làm cabin câu cá.”

“Câu cá!” bà ta kêu lên, như thể chưa từng nghe thấy chuyện gì lố bịch đến thế trong đời. “Câu cá!”

“Chậc, thật ra tôi từng nhìn thấy ông ấy câu cá ở chỗ này, vậy nên…”

Nickie đằng hắng, phẩy tay gạt bỏ cái ý tưởng đó đi. Chúng tôi đang ở bên mép nước.

Ngón chân tì vào gót chân và gót chân tì vào ngón chân, Nickie chật vật bỏ đôi chân sưng phồng hằn mạch máu ra khỏi đôi giày lười. Bà ta nhúng một ngón chân vào trong dòng nước và khúc khích cười mãn nguyện. “Nước trên này lạnh thật đấy nhỉ? Sạch sẽ.” Đúng ngập mắt cá chân trong dòng sông, bà ta hỏi, “Cô đã gặp ông ta chưa? Townsend ấy? Cô có hỏi ông ta về vợ ông ta không?”

“Ý bà là Helen à?”

Bà ta quay sang nhìn tôi, vẻ khinh thường. “Vợ Sean á? Cô Helen đó á, với bộ mặt như cái mông bị đánh đó á? Cô ta thì liên quan gì tới bất cứ chuyện gì chứ? Cô ta cũng chỉ thú vị ngang với son đang chờ khô trong ngày ẩm ướt thôi. Không đâu, người cô nên quan tâm là vợ của Patrick kìa. Lauren.”

“Lauren? Lauren đã chết ba mươi năm trước ư?”

“Phải, Lauren đã chết ba mươi năm trước ấy! Cô tưởng người chết thì chẳng quan trọng à? Cô nghĩ người chết thì không nói à? Đáng ra cô nên nghe thấy những chuyện họ phải nói.” Bà ta nhích xa hơn chút nữa vào trong dòng sông, cúi người xuống để nhúng hai bàn tay vào trong nước. “Đây này, đây chính là chỗ Annie đã đến rửa tay, đúng y như thế này này, thấy không, chỉ có điều đó ta cứ tiếp tục đi…”

Tôi chẳng duy trì sự quan tâm lâu hơn được. “Tôi phải đi rồi, Nickie, tôi phải đi tắm và làm vài việc. Rất vui được nói chuyện với bà,” tôi nói, quay người đi mặc kệ bà ta. Tôi đã đi được nửa đường về căn nhà nhỏ thì nghe thấy bà ta gọi to.

“Cô tưởng người chết thì không nói à? Có nên lắng nghe mà xem, có lẽ cô sẽ nghe được gì đó đấy. Chính Lauren mới là người cô cần tìm kiếm, bà ta mới là người bắt đầu toàn bộ chuyện này!”

Tôi bỏ bà ta ở lại dòng sông. Kế hoạch của tôi là đến chỗ Sean từ sớm; có lẽ nếu tôi xuất hiện ở nhà anh ta, đón anh ta và chở anh ta đến đồn, tôi sẽ giam chân được anh ta trong ít nhất mười lăm phút. Anh ta sẽ không thể tránh mặt tôi hoặc ném tôi ra ngoài xe. Như thế thì tốt hơn nhiều so với đối đầu anh ta ở đồn, thể nào cũng có người khác lảng vảng xung quanh.

Khoảng cách từ căn nhà nhỏ đến chỗ gia đình Townsend không xa lắm. Nếu cứ bám theo sông thì có lẽ chỉ phải đi tầm ba dặm, nhưng không có đường nối thẳng nên ta buộc phải lái cả quãng đường dài vào trong thị trấn sau đó lại quay ngược lại, vậy nên phải quá tám giờ sáng tôi mới đến nơi. Tôi đến muộn quá. Không còn chiếc xe nào đỗ ở sân trong - anh ta đã đi rồi. Hành động khôn ngoan, tôi biết thế, là trở đầu xe tiến thẳng về văn phòng, nhưng trong đầu tôi vẫn vang vang giọng nói của Nickie, và cả Louise nữa, và tôi nghĩ tôi sẽ chỉ ngó qua chút, cầu may thôi, để xem Helen có loanh quanh ở đây không.

Cô ta không xuất hiện. Tôi gõ cửa vài lần nhưng không có ai trả lời. Tôi đang quay trở về xe thì chợt nghĩ có khi thử sang chỗ Patrick Townsend ở ngay bên cạnh xem sao. Cũng không ai đáp lại. Tôi nhòm qua cửa sổ mặt tiền nhưng chẳng nhìn ra được gì nhiều, chỉ là một căn phòng tối om có vẻ trống trải. Tôi quay về chỗ của ra vào và lại gõ cửa. Chẳng có gì. Nhưng lúc tôi thử xoay tay nắm, cửa lại bật mở, và có vẻ nó chẳng khác gì một lời mời.

“Xin chào,” tôi gọi to. “Ông Townsend? Xin chào?” Không có tiếng trả lời. Tôi vào trong phòng khách, một căn phòng đơn sơ sàn lát gỗ đen tường trần trụi; sự nhượng bộ duy nhất đối với nhu cầu trang trí là một bộ sưu tập những bức ảnh lồng khung đặt trên mặt lò sưởi. Patrick Townsend mặc đồng phục - đầu tiên là quân phục, sau là cảnh phục - và mấy bức ảnh Sean từ hồi còn nhỏ cho đến tuổi thiếu niên, mỉm cười cứng đơ với ống kính, cùng một kiểu tạo dáng và cùng một biểu cảm cho mọi bức ảnh. Còn có một bức ảnh Sean và Helen trong ngày cưới, đang đứng phía trước nhà thờ ở Beckford. Sean trông trẻ, điển trai và không mấy hân hoan. Helen chẳng khác mấy so với hiện tại - có lẽ gầy hơn chút. Tuy nhiên, cô ta có vẻ hạnh phúc hơn, rụt rè mỉm cười trước ống kính dẫu đang mặc chiếc váy xấu điên.

Trên nóc chiếc tủ gỗ trước cửa sổ là một bộ khung ảnh nữa, lưu giữ các giấy chứng nhận, bằng khen, văn bằng, một công trình kỷ niệm cho các thành tựu của bố và con. Theo như tôi nhận thấy, không có bức ảnh nào của mẹ Sean.

Tôi rời khỏi phòng khách, lại gọi to. “Ông Townsend?” Giọng tôi vọng lại trong hành lang. Toàn bộ nơi này toát lên bầu không khí bị bỏ hoang, ấy vậy nhưng nó lại sạch như li như lau, không dính một vết bụi nào trên những tấm ván ốp chân tường hay tay vịn cầu thang. Tôi leo lên đến chỗ đầu cầu thang. Trên này có hai phòng ngủ, sát vách, trang trí đơn giản y như phòng khách dưới nhà, nhưng có người ở. Cả hai phòng, nếu nhìn vào đồ đạc mà đoán. Trong phòng ngủ chính, với ô cửa sổ lớn trông xuống thung lũng trải tầm nhìn ra tới tận dòng sông, là đồ đạc của Patrick: giày đen bóng lộn xếp cạnh tường, áo vest treo trong tủ quần áo. Phòng sát vách, bên cạnh chiếc giường đơn gọn gàng, là một cái ghế bên trên vắt chiếc áo vest mà tôi nhận ra Helen từng mặc hôm tôi đến trường hỏi chuyện cô ta. Và trong tủ quần áo, còn có thêm nhiều quần áo khác của cô ta, màu đen màu xám màu xanh hải quân và kiểu dáng đơn giản.

Điện thoại của tôi kêu bíp, âm thanh vang to đến điếc tai trong bầu không khí im lặng như trong nhà tang lễ của ngôi nhà. Tôi có một tin nhắn thoại, một cuộc gọi nhỡ. Là Jules. “Cảnh sát Morgan,” cô nói, giọng nghiêm trang, “tôi cần nói chuyện với cô. Chuyện khẩn cấp. Tôi đang đến gặp cô đây. Tôi… Ờ… Tôi cần nói chuyện riêng với cô. Tôi sẽ gặp cô ở đồn nhé.”

Tôi thả chiếc điện thoại vào túi quần. Tôi quay lại vào trong phòng Patrick và liếc nhanh xung quanh lần nữa, nhìn các sách để trên giá, nhìn vào trong chiếc tủ ngăn kéo cạnh giường. Bên trong đó cũng cất ảnh, những bức ảnh cũ, chụp Sean và Helen cùng nhau, đang câu cá bên sông gần căn nhà nhỏ, Sean và Helen đang hãnh diện tựa vào một chiếc ô tô mới, Helen đang đứng trước trường, vẻ mặt vừa hạnh phúc vừa xấu hổ, Helen trong sân nhỏ, đang nâng niu một con mèo trong vòng tay, Helen, Helen, Helen.

Tôi nghe thấy có tiếng động, một tiếng lách cách, tiếng nâng chốt cửa và rồi tiếng ván sàn cọt kẹt. Tôi vội đặt các bức ảnh về chỗ cũ và đóng sập ngăn kéo tủ lại, sau đó hết sức rón rén bước ra chỗ đầu cầu thang. Rồi tôi đứng chết sững. Helen đang đứng ở chân cầu thang, ngước lên nhìn tôi. Cô ta đang cầm một con dao cắt rau củ quả trong tay trái, và siết chặt lưỡi dao đến độ máu nhỏ tong tong trên sàn.

Helen

Helen không biết tại sao Erin Morgan lại lang thang trong nhà Patrick như thể cô ta sở hữu nó, nhưng tạm thời cô còn mối bận tâm lớn hơn nữa, chính là vết máu trên sàn. Patrick thích nhà cửa sạch sẽ. Cô vào bếp lấy khăn ra bắt đầu lau chùi, nhưng lại chỉ khiến cho máu chảy nhiều hơn từ vết cắt sâu ngang lòng bàn tay.

“Tôi đang thái hành,” cô nói với điều tra viên Morgan như để giải thích. “Cô làm tôi giật cả mình.”

Sự thật không hẳn là vậy, vì cô đã dùng tay thái hành ngay khi nhìn thấy chiếc xe đỗ lại. Cô vẫn cầm con dao đứng im như phỗng trong lúc Erin gõ cửa, rồi sau đó quan sát cô ta đi tới chỗ Patrick. Cô biết ông đang vắng nhà, vậy nên cô đoán viên cảnh sát rồi sẽ bỏ đi thôi. Nhưng rồi cô nhớ ra lúc rời khỏi nhà ông bạn sáng, cô đã không khóa cửa chính. Vậy nên, dao vẫn nắm trong tay, cô băng qua sân để kiểm tra xem sao.

“Nó sâu phết đấy,” Erin nói. “Cô nên vệ sinh vết thương và băng bó tử tế đi.” Erin đã xuống cầu thang và đang đứng phía trên Helen, quan sát cô lau sàn nhà. Đứng ở đó giữa nhà Patrick như thể cô ta có quyền để ở đó vậy.

“Ông ấy mà nhìn thấy cái này thì thể nào cũng giận tái người,” Helen nói. “Ông ấy thích nhà cửa sạch sẽ. Lúc nào cũng vậy.”

“Vậy cô… trông nom nhà cửa cho ông ấy à?”

Helen liếc nhìn Erin sắc lẻm. “Tôi giúp một tay thôi. Ông ấy tự làm hầu hết mọi việc, nhưng ông ấy có tuổi rồi. Và ông ấy thích mọi thứ được gọn gàng ngăn nắp. Người vợ quá cố của ông ấy,” cô nói, ngước nhìn Erin, “là đồ nhơ nhớp. Đúng từ của ông ấy đấy. Một từ cổ lỗ. Ta không được phép nói từ con đĩ nữa, đúng không nhỉ? Từ đó có vẻ xúc phạm quá.”

Cô đứng dậy, đối diện với Erin, giơ cái giẻ thấm máu ra trước mặt. Vết thương trên tay nóng rực và đau rát, gần như vết bỏng, với hiệu quả thiêu đốt tương tự. Cô không còn chắc chắn cô phải sợ ai, hay chính xác ra cô cảm thấy tội lỗi vì điều gì, nhưng cô cảm thấy cô buộc phải giữ Erin ở đây, để tìm hiểu cho ra cô ta muốn gì. Để kìm chân cô ta một lúc, hy vọng là kịp cho tới khi Patrick quay về, vì cô biết ông muốn nói chuyện với cô ta.

Helen lấy giẻ lau cán dao. “Cô uống trà nhé, cô cảnh sát?” Cô hỏi.

“Nghe hấp dẫn đấy,” Erin đáp, nụ cười vui vẻ nhạt dần khi thấy Helen khóa cửa chính và nhét chìa khóa vào túi quần trước khi tiếp tục vào trong bếp.

“Bà Townsend…” Erin cất tiếng.

“Cô có muốn cho thêm đường không?” Helen cắt lời.

Cách xử lý những tình huống kiểu như thế này là ném đối phương ra khỏi cuộc chơi của hai người. Helen đã học được điều này sau nhiều năm đấu đá trong khu vực công. Đừng làm những gì người ta đoán ta sẽ làm, như thế nó sẽ đặt đối phương vào thế bất lợi và nếu không có hiệu quả gì khác thì ít nhất nó cũng sẽ giúp ta câu được chút thời gian. Vậy nên thay vì giận dữ, tỏ ra bị xúc phạm vì người phụ nữ này đã đột nhập trái phép vào nhà, Helen lại cư xử lịch sự.

“Các cô đã tìm thấy anh ta chưa?” cô hỏi Erin trong lúc đưa cho cô ta cốc trà. “Mark Henderson ấy? Anh ta vẫn chưa xuất hiện à?”

“Chưa,” Erin đáp, “vẫn chưa.”

“Xe của anh ta bị bỏ lại trên vách đá và không có bất kỳ dấu hiệu nào của anh ta hết.” Cô thở dài. “Một vụ tự tử có thể là một sự thú tội, đúng không nhỉ? Chắc chắn nó sẽ được nhìn nhận theo cách đó. Đúng là một mớ bòng bong.” Erin gật đầu. Cô ta đang lo lắng, Helen dám chắc điều đó, cô ta không ngừng liếc ra sau về phía cửa ra vào, tay đút vào túi quần nghịch vẩn vơ. “Đây sẽ là chuyện tệ hại đối với ngôi trường, với tiếng tăm của chúng tôi. Tiếng tăm của toàn bộ nơi này, lại bị vết nhơ…”

“Tại sao cô lại ghét Nel Abbott đến thế?” Erin hỏi. “Vì cô ta đã làm ô danh Beckford bằng tác phẩm của cô ta à?”

Helen cau mày. “Chậc, đó cũng là một lý do. Cô ta là một phụ huynh tồi, như tôi đã nói với cô rồi đấy, cô ta thiếu tôn trọng tôi, thiếu tôn trọng các truyền thống và quy tắc của trường.”

“Cô ấy có phải một con đĩ không?” Erin hỏi

Helen bật cười ngạc nhiên. “Sao cơ?”

“Tôi chỉ băn khoăn không biết, cứ dùng cái từ xúc phạm kia của cô nhé, cô có cho rằng Nel Abbott là một con đĩ không? Tôi nghe nói cô ta từng lăng nhăng với vài người đàn ông trong thị trấn…”

“Tôi không biết gì về chuyện đó cả” Helen nói, nhưng mặt cô nóng bừng và cô cảm giác mình đã đánh mất thế tay trên. Cô đứng dậy, đi ngang qua phòng đến chỗ quầy bếp lấy lại con dao. Đứng bên bồn rửa, cô rửa sạch vết máu trên lưỡi dao.

“Tôi không dám nhận là mình biết được gì về đời sống cá nhân của Nel Abbott,” cô nói khẽ. Cô có thể cảm thấy ánh mắt dò xét của Erin Morgan đang dán lên mình, dõi theo mặt cô, tay cô. Cô có thể cảm thấy màu đỏ lựng đã lan đến cổ cô, ngực cô, cơ thể cô đã bán đứng cô. Cô cố gắng giữ giọng nhẹ nhàng. “Tuy nhiên, tôi sẽ khó mà ngạc nhiên nếu cô ta đúng là kẻ lang chạ. Cô ta thích thu hút sự chú ý mà.”

Cô muốn cuộc đối thoại này chấm dứt. Cô muốn viên cảnh sát này rời khỏi nhà họ, Cô muốn Sean có mặt ở nhà, và Patrick nữa. Cô có một mong muốn cháy bỏng được phơi bày tất cả, được thu nhận những tội lỗi của chính mình và đòi hỏi họ thú nhận những tội lỗi của họ. Những sai lầm đã gây ra rồi, phải thừa nhận như thế, nhưng nhà Townsend vẫn là một gia đình lương thiện. Họ là người lương thiện. Họ không có gì phải sợ hết. Cô xoay người đối diện với viên cảnh sát điều tra, hếch cằm lên và cố gắng vận hết khả năng để tỏ ra ngạo mạn, nhưng hai bàn tay cô run lên bần bật đến độ tưởng chừng sắp đánh rơi con dao đến nơi. Chắc chắn cô đâu có gì phải sợ?

Jules

Buổi sáng, tôi rời đi, để Lena cuốn mình trong chăn trên giường mẹ nó, vẫn ngủ say sưa. Tôi để lại tin nhắn cho con bé, bảo nó ra đồn cảnh sát lúc mười một giờ để lấy lời khai, tôi sẽ gặp nó ở đó. Trước đó tôi còn nhiều việc phải làm, có những câu chuyện tốt hơn hết là chỉ nên giữ riêng giữa người lớn với nhau. Giờ tôi phải suy nghĩ như một bậc phụ huynh, như một người mẹ. Tôi phải bảo vệ con bé, phải giữ nó tránh xa bất kỳ tổn thương nào.

Tôi lái xe tới đồn cảnh sát, giữa đường dừng lại gọi điện cho Erin để báo trước tôi đang đến. Tôi muốn đảm bảo rằng tôi sẽ được nói chuyện với Erin, và tôi phải đảm bảo sao cho chúng tôi có thể nói chuyện riêng với nhau.

“Tại sao kẻ bị đẩy ra khỏi một cái vách đá chết giẫm kia lại không phải chính ông ta?” Tối hôm qua Lena đã kể về Sean Townsend. Câu chuyện đã được tiết lộ toàn bộ, nào là Sean đã phải lòng Nel và - Lena nghĩ - Nel cũng hơi hơi phải lòng Sean. Chuyện đã kết thúc được một thời gian - Nel bảo mọi chuyện “đã trở về quỹ đạo bình thường”, mặc dù Lena không mấy tin lời mẹ. Dù sao đi nữa, Helen ắt hẳn đã phát hiện ra, cô ta ắt hẳn đã trả thù. Sau đó đến lượt tôi bùng nổ giận dữ: tại sao trước đây Lena không kể gì hết? Anh ta là người chịu trách nhiệm điều tra cái chết của Nel, việc đó hoàn toàn không thích hợp.

“Chú ấy yêu mẹ cháu” Lena nói. “Chẳng phải việc chú ấy làm đã chứng tỏ chú ấy là người tốt sao, việc chú ấy cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với mẹ ấy?”

“Nhưng Lena, cháu không thấy là…”

“Chú ấy là người tốt, dì Julia. Sao cháu có thể nói gì chứ? Chuyện đó sẽ khiến chú ấy lâm vào rắc rối, trong khi chú ấy không đáng bị như thế. Chú ấy là một người đàn ông tốt.”

Erin không trả lời điện thoại, vậy nên tôi để lại lời nhắn và lái xe tới đồn. Tôi đỗ xe bên ngoài và gọi điện lần nữa, nhưng vẫn không có ai trả lời, vậy nên tôi quyết định đợi. Sau nửa giờ, tôi quyết định thôi thì cứ đi vào đã. Nếu Sean có ở đó, tôi sẽ bịa ra một cái cớ, tôi sẽ giả vờ là tôi tưởng Lena được hẹn lấy lời khai lúc chín giờ chứ không phải mười một. Tôi sẽ nghĩ ra gì đó.

Hóa ra, anh ta không có trong đồn. Cả hai người họ đều không. Người đàn ông ngồi ở bàn giấy bảo tôi rằng thanh tra Townsend sẽ ở Newcastle cả ngày, còn điều tra viên Morgan thì ông ta không chắc đang ở đâu, nhưng ông ta không nghi ngờ gì là cô ấy sẽ có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

Em quay lại xe. Em lôi chiếc vòng tay của chị ra khỏi túi quần - em đã bỏ nó vào trong một cái túi nylon để bảo vệ nó. Bảo vệ thứ ở trên đó cho dù nó có là thứ gì đi nữa. Chỉ có một cơ hội rất mong manh rằng sẽ có một dấu vân tay hay ADN dính vào giữa những mắt xích của chiếc vòng, nhưng cơ hội rất mong manh thì vẫn cứ là cơ hội. Cơ hội rất mong manh vẫn là một khả năng. Cơ hội rất mong manh vẫn có thể là một câu trả lời. Nickie bảo chị mất mạng vì đã phát hiện ra chuyện gì đó về Patrick Townsend; Lena bảo chị mất mạng vì chị yêu Sean và anh ta yêu chị, và Helen Townsend, cô Helen ghen tuông, đầy thù hận, không chịu nổi chuyện đó. Dẫu xoay theo hướng nào đi nữa, em cũng vẫn nhìn thấy bóng dáng người nhà Townsend.

Đấy chỉ là cách nói ẩn dụ. Trên thực tế, em nhìn thấy Nickie Sage, đang lừng lững trong gương chiếu hậu. Bà ta đang ì ạch băng ngang qua bãi đỗ xe, bước chân chậm chạp đau đớn, khuôn mặt ửng hồng bên dưới chiếc mũ mềm to tướng. Bà ta đến chỗ đuôi xe em và tựa vào đó, và em có thể nghe thấy tiếng bà ta thở hồng hộc vọng qua khung cửa sổ để mở.

“Nickie.” Tôi ra khỏi xe. “Bà không sao chứ?” Bà ta không trả lời. “Nickie?” Nhìn gần, trông bà ta như thể sắp chết đến nơi.

“Cho tôi đi nhờ với,” bà ta thở hổn hển. “Đi bộ suốt mấy tiếng đồng hồ rồi.”

Tôi giúp bà ta vào trong xe. Quần áo bà ta đẫm mồ hôi. “Bà đã ở chỗ quái quỷ nào vậy, Nickie? Bà đã làm gì vậy?”

“Đi dạo,” bà ta khò khè. “Lên chỗ căn nhà nhỏ của gia đình Ward. Lắng nghe dòng sông.”

“Chẳng lẽ bà không nhận thấy dòng sông chảy ngay dưới cửa trước nhà bà à?”

Bà ta lắc đầu. “Không phải cùng một dòng sông ấy. Cô cứ tưởng nó luôn là một, nhưng nó đã thay đổi. Ở trên kia, nó có một linh hồn khác. Thỉnh thoảng, cô nên đi nghe tiếng nó mới được.”

Tôi rẽ trái ngay phía trước cây cầu, tiến về phía quảng trường. “Ở trên đây hả?” Bà ta gật đầu, vẫn hổn hển hớp không khí. “Có lẽ lần tới muốn đi loanh quanh, bà nên tìm ai đó để đi nhờ.”

Bà ta ngả người ra sau tựa vào lưng ghế và nhắm mắt lại. “Cô đang xung phong đấy à? Tôi không nghĩ là cô lại loanh quanh ở gần đây đâu.”

Khi đã đến căn hộ của bà ta, chúng tôi ngồi trong xe một lát. Tôi không nỡ bắt bà ta ra ngoài rồi leo luôn lên tầng, vậy nên thay vào đó, tôi lắng nghe trong lúc bà ta trình bày tại sao tôi nên ở lại Beckford, tại sao sẽ tốt cho Lena nếu cứ ở bên dòng nước, tại sao nếu rời đi tôi sẽ không bao giờ nghe thấy tiếng chị gái mình.

“Tôi không tin vào chuyện vớ vẩn đó đâu, Nickie,” tôi nói.

“Tất nhiên cô phải tin chứ,” bà ta cáu kỉnh nói.

“Thôi được.” Tôi không định tranh cãi làm gì. “Cứ cho là vậy. Bà đã lên chỗ căn nhà nhỏ của gia đình Ward hả? Đó là chỗ Erin Morgan đang ở phải không? Bà không gặp cô ta à?”

“Có chứ. Cô ta đã ra ngoài chạy loanh quanh đâu đó. Sau đó cô ta lại chạy đến chỗ nào đấy nữa, có lẽ bám theo nhầm đầu mối rồi. Cứ lải nhải về Helen Townsend, trong khi tôi đã bảo với cô ta rằng Helen không phải là người cô ta nên bận tâm. Chẳng ai chịu nghe tôi cả. Lauren, tôi nói, không phải Helen đâu. Nhưng chẳng ai chịu nghe cả.”

Bà ta đưa cho tôi địa chỉ của gia đình Townsend. Địa chỉ kèm theo một cảnh báo: “Nếu lão già ấy cho rằng cô biết gì đó, thể nào lão ta cũng làm hại cô đấy. Cô phải khôn ngoan vào.” Tôi không kể cho bà ta nghe về chiếc vòng tay, cũng không nói rằng không phải Erin mà chính bà ta mới là người bám theo nhầm đầu mối.

Erin

Helen không không ngừng ngó ra cửa sổ, như thể đang đợi ai xuất hiện.

“Cô đang đợi Sean về à?” tôi hỏi cô ta.

Cô ta lắc đầu. “Không. Sao anh ấy lại về giờ này chứ? Anh ấy đang ở Newcastle mà, nói chuyện với cấp trên về vụ Henderson. Chắc cô phải biết rồi chứ nhỉ?”

“Anh ấy không kể với tôi, tôi nói. “Chắc anh ấy đã quên mất.” Cô ta nhướng mày lên vẻ không tin. “Anh ấy thỉnh thoảng vẫn lơ đãng mà, đúng không?” tôi nói tiếp. Hai bên lông mày cô ta càng nhướng cao hơn nữa. “Ý tôi là, vụ lơ đãng đó không ảnh hưởng gì đến công việc của anh ấy hay gì cả, chỉ là đôi lúc…”

“Đừng nói nữa,” cô ta gắt gỏng.

Cô ta thật không tài nào dù thấu được, quay ngoắt từ lịch sự sang cáu kỉnh, từ rụt rè sang hung hăng, mới phút trước còn giận dữ phút sau đã hoảng sợ. Thái độ ấy khiến tôi bất an tột độ. Người phụ nữ nhỏ bé lặng lẽ không mấy ấn tượng đang ngồi đối diện tôi đây khiến tôi phát sợ vì tôi không biết cô ta sẽ làm gì tiếp theo - mời tôi thêm một cốc trà nữa hay cầm dao lao vào tôi.

Cô ta đột nhiên đẩy bật cái ghế về phía sau, chân ghế cào vào mặt sàn, rồi cô ta đứng dậy bước tới chỗ của sổ. “Ông ấy đi lâu lắm rồi,” cô ta nói khẽ.

“Ai cơ? Patrick à?”

Cô ta phớt lờ tôi. “Ông ấy vẫn thường đi dạo vào buổi sáng, nhưng không mấy khi đi lâu đến thế này. Ông ấy không khỏe. Tôi…”

“Cô có muốn đi tìm ông ấy không?” tôi hỏi. “Tôi có thể đi cùng nếu cô muốn.”

“Gần như ngày nào ông ấy cũng đến chỗ căn nhà nhỏ đó,” cô ta bảo, nói năng như thể tôi không có mặt đó, như thể cô ta không thể nghe thấy tiếng tôi. “Tôi không biết tại sao. Đó chính là nơi Sean thường đưa cô ta tới. Đó chính là nơi họ đã… Ôi, tôi không biết nữa. Tôi không biết mình phải làm gì nữa. Tôi thậm chí không còn chắc chắn cái gì là đúng đắn nữa.” Cô ta co bàn tay phải lại thành nắm đấm, một bông hoa đỏ nở bung trên lớp băng gạc trắng tinh của cô ta.

“Tôi đã rất mừng vì Nel Abbott chết,” cô ta nói. “Tất cả chúng tôi đều mừng. Thật là nhẹ hết cả người. Nhưng chẳng được lâu. Chẳng được lâu. Bởi vì bây giờ tôi không sao ngừng băn khoăn không biết có phải chuyện đó còn gây ra nhiều rắc rối cho chúng tôi hơn nữa không.” Cuối cùng cô ta cũng quay sang nhìn tôi. “Sao cô lại ở đây? Và xin cô đừng nói dối, vì hôm nay tôi không có tâm trạng đâu.” Cô ta giơ tay lên mặt và lúc cô ta lau miệng, máu đỏ tươi đã lem lên môi.

Tôi thò tay vào túi tìm điện thoại và lôi nó ra. “Có lẽ tôi nên đi thôi,” tôi nói, từ từ đứng dậy. “Tôi định nói chuyện với Sean, nhưng vì anh ấy không ở đây…”

“Không phải anh ấy lơ đãng đâu, có biết không? cô ta nói, bước sang trái một bước thành ra đứng chắn ngang giữa tôi và đường tới cửa chính. “Anh ấy thỉnh thoảng có lơ đãng thật, nhưng đó là chuyện khác. Không đâu, nếu anh ấy không kể với cô chuyện đi Newcastle, thì đó là vì anh ấy không tin tưởng cô, và nếu anh ấy đã không tin cô, tôi không chắc là tôi nên làm ngược lại. Tôi sẽ chỉ hỏi thêm một lần nữa thôi,” cô ta nói, “tại sao cô lại ở đây.”

Tôi gật đầu, cố gắng thả lỏng hai vai, thư giãn. “Như tôi đã nói đấy, tôi muốn nói chuyện với Sean.”

“Về?”

“Về một lời buộc tội tư cách đạo đức có vấn đề,” tôi nói. “Về mối quan hệ của anh ấy với Nel Abbott.”

Helen tiến về phía tôi và tôi cảm thấy một luồng adrenaline đột ngột xộc thẳng lên bụng khiến tôi nhộn nhạo. “Sẽ có hậu quả, phải không?” cô ta nói, một nụ cười buồn nở trên khuôn mặt. “Sao chúng ta lại có thể tưởng rằng sẽ không có hậu quả chứ?”

“Helen,” tôi nói, “tôi chỉ cần biết…”

Tôi nghe tiếng cửa trước mở đánh rầm và vội bước lùi ra sau, kéo dãn khoảng cách giữa chúng tôi, trong lúc Patrick bước vào phòng.

Trong một thoáng, không ai trong chúng tôi nói gì. Ông ta nhìn tôi chằm chằm, dán mắt vào mắt tôi, quai hàm nghiến lại, trong lúc ông ta cởi áo khoác ra và ném nó lên một cái lưng ghế. Rồi ông ta lại hướng sự chú ý về phía Helen. Ông ta để ý thấy bàn tay nhuốm máu của cô ta và lập tức trở nên kích động.

“Có chuyện gì vậy? Cô ta đã làm gì con à? Con yêu à…”

Helen đỏ mặt và bụng dưới tôi quặn lại. “Không có gì đâu,” cô ta nói vội. “Không có gì đâu. Không phải cô ấy đâu. Con đang thái hành thì bị trượt tay…”

Patrick nhìn bàn tay kia của cô ta, nhìn con dao cô ta vẫn đang nắm trong tay. Nhẹ nhàng, ông ta gỡ nó ra khỏi tay cô ta. “Cô ta làm gì ở đây vậy,” ông ta hỏi, không nhìn tôi.

Helen nghiêng đầu sang bên, ánh mắt đảo từ bố chồng sang tôi và rồi lại quay về phía bố chồng cô ta. “Cô ấy đang hỏi chuyện,” cô ta nói, “về Nel Abbott.” Cô ta nuốt nước bọt. “Về Sean. Về đạo đức nghề nghiệp của anh ấy.”

“Tôi chỉ cần làm rõ một chuyện thôi, theo thủ tục ấy mà, liên quan đến quá trình điều tra.”

Patrick có vẻ không thèm quan tâm. Ông ta ngồi xuống bàn bếp, không hề nhìn tôi. “Con có biết,” ông ta nói với Helen, “tại sao họ lại thuyên chuyển cô ta đến đây không? Bố đã hỏi chỗ này chỗ kia - bố vẫn còn giữ quan hệ với nhiều người, tất nhiên rồi, và bố đã nói chuyện với một cộng sự cũ đang ở London, và anh ta đã kể với bố rằng cô điều tra viên cao quý này bị tống cổ khỏi vị trí ở Sở Cảnh sát Thủ đô vì tội quyến rũ một đồng nghiệp trẻ tuổi hơn. Và không phải một đồng nghiệp bất kỳ nào đó, mà là một phụ nữ! Con có tưởng tượng được không?” Tiếng cười khô khốc của ông ta chuyển thành một tiếng ho khan của người nghiện thuốc lá. “Cô ta ở đây, săn đuổi thầy giáo Henderson của con, trong lúc cô ta lại phạm phải đúng cái tội lỗi tương tự. Lạm dụng quyền lực để thỏa mãn nhu cầu tình dục của chính mình. Ấy vậy nhưng cô ta vẫn giữ được công việc.” Ông ta châm một điếu thuốc lá. “Và rồi cô ta đến đây và bảo rằng cô ta muốn nói chuyện về đạo đức nghề nghiệp của con trai bố!”

Cuối cùng, ông ta cũng nhìn tôi. “Lẽ ra cô cũng nên bị tống cổ khỏi lực lượng, nhưng vì cô là phụ nữ, vì cô là một con ô môi, cô lại tránh khỏi hình phạt. Đó là thứ người ta vẫn gọi là bình đẳng đấy.” Ông ta giễu cợt. “Cô có tưởng tượng được chuyện gì sẽ xảy ra nếu đó là một người đàn ông không? Nếu Sean bị bắt quả tang đang ngủ với một cấp dưới của nó, nó sẽ mất việc.”

Tôi nắm chặt hai bàn tay thành nắm đấm để ngăn chúng khỏi run. “Thế nếu Sean ngủ với một phụ nữ cuối cùng đã mất mạng thì sao?” tôi hỏi. “Theo ông thì chuyện gì sẽ xảy ra với anh ấy?”

Ông ta di chuyển lanh lẹ quá mức so với một lão già. Ông ta đứng dậy, cái ghế đổ rầm ra sau, và bàn tay ông ta đã bao quanh cổ họng tôi có lẽ trong chưa đến một giây. “Giữ mồm giữ miệng đấy, đồ chó cái đê tiện,” ông thì thầm, phả khói thuốc hôi rình vào mặt tôi. Tôi đẩy mạnh vào ngực ông ta và ông ta thả tôi ra.

Ông ta bước lùi lại, hai tay buông xuôi hai bên sườn, nắm tay siết chặt. “Con trai tôi chẳng làm gì sai trái hết.” ông ta nói khẽ. “Vậy nên nếu cô gây rắc rối gì cho nó, cô gái ạ, tôi sẽ gây rắc rối cho cô đấy. Cô có hiểu không? Cô sẽ được nhận lại kèm thêm cả lợi tức nữa đấy.”

“Bố ơi,” Helen nói. “Đủ rồi đấy. Bố đang dọa cô ấy sợ đấy.”

Ông ta mỉm cười quay sang phía người con dâu. “Bố biết, cưng ạ. Bố cố ý làm thế đấy.” Ông ta lại quay về phía tôi và lại mỉm cười. “Đối với một số người, đó là điều duy nhất họ hiểu được.”

Jules

Tôi bỏ xe lại bên lề con đường dẫn tới nhà Townsend. Tôi không cần làm thế, có khối chỗ để đậu xe trong sân nhà họ, nhưng có cảm giác đúng là tôi nên làm thế. Chuyện này có cảm giác phải là một nhiệm vụ bí mật, như thể tôi phải làm họ ngạc nhiên. Cái con người dũng cảm, kẻ đã xuất hiện vào hôm tôi đương đầu với kẻ cưỡng hiếp mình, đã quay trở lại. Chiếc vòng tay vẫn cất trong túi quần, tôi sải bước tiến vào khoảng sân tràn ngập ánh nắng, lưng thẳng, dáng vẻ cương quyết. Tôi đến đây nhân danh chị gái tôi, để làm những điều đúng đắn cho chị ấy. Tôi đã hạ quyết tâm. Tôi không sợ hãi.

Tôi không sợ hãi cho tới khi Patrick Townsend mở cửa cho tôi, khuôn mặt ông ta phừng phừng giận dữ, tay cầm con dao.

“Cô muốn gì?” ông ta cất vấn.

Tôi lùi xa cửa chính vài bước. “Tôi…” Ông ta đang định đóng sầm cửa lại ngay trước mặt tôi và tôi đã quá sợ hãi chẳng thể nói được những điều mình cần nói. Ông ta đã trừ khử vợ mình, Nickie đã bảo tôi, và cả chị gái cô nữa. “Tôi…”

“Jules?” một giọng nói vọng tới chỗ tôi. “Cô đấy à?”

Nó đúng là một cảnh ấn tượng. Helen ở đó, máu lem trên tay và mặt, và Erin cũng ở đó, vụng về giả vờ rằng cô ta đang nắm quyền kiểm soát tình hình. Cô ta chào đón tôi bằng một nụ cười hân hoan. “Chuyện gì đã mang cô đến đây đấy? Theo kế hoạch thì chúng ta sẽ hẹn gặp ở đồn mà.”

“Phải, tôi biết, tôi…”

“Nói gì thì nói nhanh lên,” Patrick lầm bầm. Da tôi nóng ran, hơi thở dồn dập, “Đồ Abbott chúng mày! Lạy Chúa, cái gia đình mới hay ho làm sao chứ!” Giọng ông ta cao vói lên trong lúc ông ta nện con dao xuống bàn bếp. “Tôi vẫn nhớ cô đấy, biết không hả? Béo phì, đúng không, hồi cô còn bé ấy?” Ông ta quay sang nói với Helen. “Đồ béo ú đáng ghê tởm, cô ta từng thế đấy. Và bố mẹ cô ta nữa chứ! Thật đáng thương.” Hai bàn tay tôi run lên bần bật trong lúc ông ta quay sang nhìn tôi. “Có lẽ bà mẹ thì còn có lý do bào chữa, vì bà ta đang hấp hối, nhưng lẽ ra ai đó nên nhận trách nhiệm giáo dưỡng bọn họ. Cô và chị gái cô, các cô chẳng được dạy bảo gì cả, phải không? Và cứ xem cả hai cô đã thành ra người như thế nào kìa! Cô ta thì tâm thần bất ổn, còn cô thì… chậc. Cô thì sao hả? Ngu ngốc hả?”

“Đủ rồi đấy, ông Townsend,” Erin nói. Cô ta nắm cánh tay tôi. “Đi nào, để tôi đưa cô về đồn. Chúng ta phải lấy lời khai của Lena nữa.”

“A phải, đứa con gái. Nó rồi sẽ trở nên giống như mẹ nó thôi, nó sẽ có cùng cái vẻ để tiện đó, cái miệng bẩn thỉu đó, cái khuôn mặt khiến ta chỉ muốn tát…”

“Ông đã dành rất nhiều thời gian để nghĩ đến chuyện làm này làm nọ với đứa cháu gái vị thành niên của tôi, đúng không?” tôi lớn tiếng. “Ông cho rằng đó là chuyện hay ho à?” Cơn giận của tôi lại đang lên, và Patrick không được chuẩn bị sẵn sàng cho nó. “Sao hả? Có phải thế không? Lão già tởm lợm.” Tôi quay sang Erin. “Thật ra tôi vẫn chưa sẵn sàng để rời khỏi chỗ này,” tôi nói. “Nhưng tôi mừng là cô đang ở đây, Erin, tôi nghĩ đây đúng là lúc thích hợp, bởi vì lý do tôi đến đây không phải là để nói chuyện với ông ta,” tôi hất đầu về phía Patrick, mà là với cô ta. Với cô, cô Townsend ạ.” Bàn tay run rẩy, tôi lôi cái túi nylon nhỏ ra khỏi túi quần và đặt nó lên bàn, cạnh con dao. “Tôi muốn hỏi cô, cô đã lấy cái vòng tay này ra khỏi cổ tay chị gái tôi vào lúc nào?”

Hai mắt Helen mở to và tôi biết cô ta đang cảm thấy tội lỗi.

“Cô lấy cái vòng này ở đâu vậy, Jules?” Erin hỏi.

“Từ chỗ Lena. Con bé lấy nó từ chỗ Mark Henderson. Anh ta đã lấy nó từ chỗ Helen. Còn cô ta, tôi mạn phép đoán từ vẻ mặt tội lỗi của cô ta, đã lấy nó từ chị gái tôi trước khi giết chết chị ấy.”

Patrick cười phá lên, một tràng cười lớn tiếng, giả tạo. “Cô ta lấy nó từ chỗ Lena, Lena lấy nó từ chỗ Mark, Mark lấy nó từ chỗ Helen, còn Helen lấy nó từ chỗ nàng tiên trên cái cây thông Giáng sinh chó chết! Xin lỗi, cưng,” ông ta xin lỗi Helen, “thứ lỗi cho bố vì đã nói tục nhé, nhưng chuyện này nhảm nhí quá.”

“Nó được để ở văn phòng cô, đúng không, Helen?” Tôi nhìn Erin. “Nó sẽ có dấu vân tay, ADN, phải không?”

Patrick lại cười khùng khục, nhưng Helen có vẻ choáng váng. “Không, tôi…” cuối cùng cô ta cũng lên tiếng, mắt chớp chớp đảo từ tôi sang Erin sang bố chồng. “Nó là… Không.” Cô ta hít một hơi thở sâu. “Tôi đã tìm thấy nó,” cô ta nói. “Nhưng tôi không biết… Tôi không biết nó là của cô ta. Tôi chỉ… Tôi đã giữ nó. Tôi định chuyển nó vào chỗ đồ vật thất lạc.”

“Cô đã tìm thấy nó ở đâu, Helen?” Erin hỏi. “Cô tìm thấy nó ở trường à?”

Helen liếc nhìn Patrick và rồi quay lại nhìn cô điều tra viên, như thể đang cân nhắc không biết nói dối tiếp thì có sao không. “Tôi nghĩ là tôi… vâng, đúng thế. Và, ờ, tôi đã không biết nó là của ai, vậy nên…”

“Chị gái tôi đeo cái vòng đó suốt,” tôi nói. “Trên đó có khắc tên viết tắt của mẹ tôi. Tôi thấy có phần khó mà tin nổi là cô đã không nhận ra nó là cái gì, không nhận ra rằng nó là thứ quan trọng. “

“Tôi không nhận ra,” Helen nói, nhưng giọng cô ta yếu ớt và mặt cô ta ửng đỏ.

“Tất nhiên nó không biết rồi!” Patrick đột nhiên hét lên. “Tất nhiên nó không thể biết thứ đó là của ai hay thứ đó từ đâu ra rồi.” Ông ta bước nhanh tới bên cô ta, đặt tay lên vai cô ta. “Helen có cái vòng tay vì tôi đã bỏ lại trong xe của nó. Vì bất cẩn. Tôi đã định ném nó đi, tôi đã định thế, nhưng… Tôi đã trở nên khá đãng trí. Bố đã trở nên đãng trí, cưng nhỉ?” Helen không nói gì, cô ta không nhúc nhích. “Tôi đã bỏ nó trong xe,” ông ta nói lại.

“Được rồi,” Erin nói. “Vậy ông đã lấy nó từ đâu?”

Ông ta nhìn thẳng vào tôi trong lúc trả lời cô ta.“Cô nghĩ tôi lấy nó từ đâu chứ, đồ ngốc? Tôi đã lột nó ra khỏi cổ tay con điếm đó ngay trước khi tôi ném cô ta xuống.”

Patrick

Ông ta đã yêu cô từ lâu, nhưng chưa bao giờ tha thiết bằng cái thời khắc cô lao tới bảo vệ ông ta.

“Chuyện không phải như thế!” Helen đứng bật dậy. “Chuyện không phải… Không! Bố đừng nhận trách nhiệm cho chuyện này, bố ơi, chuyện không phải như thế! Bố không… Bố thậm chí không…”

Patrick mỉm cười với cô, chìa một bàn tay ra. Cô nắm lấy và ông ta kéo cô lại gần hơn. Cô dịu dàng, nhưng không yếu đuối, sự khiêm tốn của cô, sự thẳng thắn không chút hổ thẹn của cô còn có sức rung động mạnh mẽ hơn bất kỳ vẻ đẹp dễ dãi nào. Giờ nó đã khiến ông ta xúc động - ông ta cảm thấy máu đang dâng lên, cảm thấy trái tim già nua xuống sức của ông ta đang được tiếp thêm nguồn lực.

Không ai nói gì. Cô em gái đang lặng lẽ khóc, đang kêu la dù không phát ra bất kỳ âm thanh nào. Cô điều tra viên quan sát ông ta, quan sát Helen, khuôn mặt toát lên vẻ thấu hiểu nào đó.

“Ông có…?” Cô lắc đầu, không biết nói gì nữa. “Ông Townsend, tôi…”

“Thôi đi!” Ông ta đột nhiên giận dữ, mong mỏi đến tuyệt vọng được tránh xa khỏi nỗi đau khổ rõ ràng của người phụ nữ kia. “Vì Chúa, cô là sĩ quan cảnh sát cơ mà, cần làm gì thì làm đi.”

Erin hít một hơi thở sâu và tiến về phía ông ta. “Patrick Townsend, tôi bắt giữ ông vì ông là nghi phạm đã giết Danielle Abbott. Ông không cần phải nói bất cứ điều gì…”

“Vâng, vâng, vâng, được rồi,” ông ta mệt mỏi nói. “Tôi biết, tôi biết tất cả những thứ đó. Chúa ôi. Đám phụ nữ như cô, các cô chẳng bao giờ biết khi nào thì nên dừng nói.” Rồi ông ta quay sang Helen. “Nhưng con, con yêu ạ, con thì biết. Con biết khi nào nên nói và khi nào nên im lặng. Con nói sự thật, cô gái của bố.”

Cô bật khóc, và ông ta không mong muốn gì hơn là được ở bên cạnh cô, trong căn phòng trên tầng, chỉ một lần cuối cùng, trước khi ông ta bị đưa đi cách xa cô. Rồi ông ta hôn lên trán cô, và trước khi theo viên cảnh sát bước ra ngoài cửa, ông ta chào tạm biệt cô.

Patrick chưa bao giờ là người theo thuyết thần bí, tin vào trực giác hay linh cảm, nhưng nếu buộc phải thành thật, thì ông ta đã cảm thấy điều này đang tiến đến: ngày phán xét. Tàn cục. Ông ta đã cảm thấy nó từ rất lâu trước khi người ta lôi cái thi thể lạnh ngắt của Nel Abbott ra khỏi dòng nước, chỉ có điều ông ta đã phẩy tay bỏ qua chỉ coi nó là triệu chứng của tuổi già. Dạo gần đây, tâm trí ông ta vẫn đang bày ra rất nhiều trò chơi khăm, gia tăng màu sắc và âm thanh cho những ký ức cũ, che mờ các đường viền của những ký ức mới. Ông ta biết đấy chính là sự bắt đầu của nó, lời từ biệt trước chuyến đi xa, rằng ông ta sẽ bị ăn mòn từ trong ra ngoài, từ nhân tới vỏ. Ít nhất, ông ta vẫn có thể lấy làm may mắn vì vẫn có thời gian thắt lại cho chặt những mối nối lỏng lẻo, để giành quyền kiểm soát. Giờ ông ta đã nhận ra, đó là cách duy nhất để cứu vãn một điều gì đó của cuộc sống họ đã gây dựng, mặc dù ông ta biết rõ không phải ai cũng có thể được thứ tha.

Khi họ dẫn ông ta vào ngồi trong phòng thẩm vấn đồn cảnh sát Beckford, thoạt đầu ông ta những tưởng nỗi nhục nhã sẽ khiến ông ta không thể chịu đựng nổi, nhưng ông ta vẫn chịu đựng. Ông ta nhận ra, điều khiến nó trở nên dễ dàng hơn chính là cảm giác nhẹ nhõm đến ngạc nhiên. Ông ta muốn kể câu chuyện của mình. Nếu nó không tránh khỏi bị phanh phui, vậy thì ông ta nên là người kể nó, trong lúc ông ta vẫn còn thời gian, trong lúc tâm trí ông ta vẫn còn thuộc về bản thân ông ta. Không chỉ có sự nhẹ nhõm, còn có cả niềm tự hào nữa. Suốt cả cuộc đời, một phần nào đó trong ông ta vẫn mong muốn được kể lại chuyện đã xảy ra vào cái đêm Lauren qua đời, nhưng ông ta đã không thể. Ông ta phải kìm nén, vì tình yêu dành cho con trai.

Ông ta nói bằng những câu ngắn, đơn giản. Ông ta nói rất rõ ràng. Ông ta trình bày rõ ý định tiến hành một cuộc thú nhận chi tiết về vụ giết Lauren Slater năm 1983 và Danielle Abbott năm 2015.

Lauren thì dễ dàng hơn, tất nhiên. Đó là một câu chuyện không hề phức tạp. Họ đã tranh cãi trong nhà. Bà tấn công ông ta, còn ông ta tự vệ, và trong quá trình tự vệ ấy, bà đã bị thương nặng, quá nghiêm trọng không thể cứu được. Vậy nên, nhằm cố gắng tránh cho cậu con trai khỏi phải biết đến sự thật, và - ông ta thừa nhận - tránh cho chính ông ta khỏi rơi vào vòng lao lý, ông ta lái xe đưa bà tới con sông, mang xác bà lên trên đỉnh vách đá và hất bà, giờ đã không còn sự sống, vào trong dòng nước.

Điều tra viên Morgan lịch sự lắng nghe, nhưng đến lúc đó, cô ngăn ông lại. “Con trai ông có ở cạnh ông vào thời điểm đó không, ông Townsend?” cô hỏi.

“Thằng bé chẳng nhìn thấy gì cả,” Patrick đáp. “Nó còn quá bé, lại quá hoảng loạn, nên không hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Nó không nhìn thấy mẹ nó bị thương, và nó không nhìn thấy mẹ nó ngã xuống.”

“Anh ấy đã không chứng kiến ông ném bà ấy ra khỏi vách đá ?”

Phải vận đến toàn bộ sức lực, ông ta mới không chồm qua bàn để cho cô một cái tát. “Thằng bé không nhìn thấy bất kỳ cái gì hết. Tôi phải đưa nó vào xe vì tôi không thể để một đứa trẻ sáu tuổi ở nhà một mình trong cơn bão. Nếu cô có con, cô sẽ hiểu chuyện đó thôi. Thằng bé không nhìn thấy gì hết. Nó bối rối không hiểu, vậy nên tôi đã kể cho nó… một phiên bản của sự thật sẽ hợp lý đối với thằng bé. Một sự thật mà nó có thể hiểu được.”

“Một phiên bản của sự thật ư?”

“Tôi đã kể cho nó nghe một câu chuyện - ta vẫn thường làm thế với bọn trẻ con mà, mỗi khi có điều gì đó chúng không thể hiểu được. Tôi kể cho nó nghe một câu chuyện mà thằng bé có thể sống cùng với nó, một câu chuyện sẽ khiến cho cuộc sống của nó trở nên có thể sống được. Cô không hiểu điều đó à?” Dù cố gắng hết sức, ông ta vẫn không thể ngăn cho giọng nói khỏi cao lên. “Tôi sẽ không bỏ mặc thằng bé một mình, đúng không? Mẹ thằng bé đã mất, và nếu tôi đi tù, chuyện gì sẽ xảy ra với thằng bé? Nó sẽ phải sống một cuộc đời như thế nào? Nó sẽ bị đặt dưới quyền giám hộ. Tôi đã chứng kiến nhiều chuyện xảy ra với những đứa trẻ sống cùng người giám hộ rồi, chẳng có đứa nào lại không trở nên hư hỏng và trụy lạc. Tôi phải bảo vệ thằng bé,” Patrick nói, niềm tự hào trào dâng trong lồng ngực, “suốt cuộc đời nó.”

Câu chuyện về Nel Abbott, không thể tránh khỏi, không dễ kể lại được như thế. Khi ông ta phát hiện ra cô đang trò chuyện với Nickie Sage và nghiêm túc để ý đến những lời buộc tội của bà ta liên quan đến Lauren, ông ta bắt đầu lo lắng. Nói thế không có nghĩa là cô sẽ khai báo với cảnh sát, không. Cô không hứng thú với sự công bằng hay bất kỳ thứ gì kiểu thế, cô chỉ quan tâm đến việc gia tăng tính giật gân cho tác phẩm vô giá trị của mình. Điều khiến ông ta lo lắng là cô có thể nói gì đó khiến Sean phiền lòng. Một lần nữa, ông ta lại bảo vệ con trai mình. “Các ông bố vẫn làm thế mà,” ông ta chỉ ra vấn đề. “Tuy nhiên có thể cô thì không ý thức được chuyện đó. Tôi nghe nói bố cô là một tay bợm nhậu.” Ông ta mỉm cười với Erin Morgan, nhìn cô co rụt lại khi cú đấm đó hạ xuống. “Tôi nghe nói ông ta nóng tính lắm.”

Ông ta kể ông ta đã thu xếp hẹn gặp Nel Abbott một tối muộn để nói chuyện về những lời buộc tội.

“Và cô ấy đến gặp ông ở vách đá à?” Điều tra viên Morgan hoài nghi.

Patrick mỉm cười. “Cô chưa bao giờ gặp cô ta nhỉ. Cô không biết mức độ phù phiếm và tự tin thái quá của cô ta đâu. Tất cả những gì tôi phải làm là gợi ý với cô ta rằng tôi sẽ kể lại từ đầu đến cuối cho cô ta biết chính xác những chuyện đã xảy ra giữa Lauren và tôi. Tôi chỉ cho cô ta thấy những sự kiện khủng khiếp của buổi tối hôm đó sẽ được bóc trần như thế nào, ngay tại đó, trên chính địa điểm chúng đã diễn ra. Tôi sẽ kể cho cô ta nghe câu chuyện chưa từng được kể trước đó, cô ta sẽ là người đầu tiên được nghe. Rồi sau đó, một khi tôi đã dụ được cô ta lên đó rồi, mọi chuyện trở nên đơn giản. Cô ta đã uống say, cô ta đứng không vững.”

“Còn chiếc vòng tay.”

Patrick cựa người trên ghế và buộc mình nhìn thẳng vào mắt điều tra viên Morgan. “Đã có một cuộc vật lộn nhỏ, tôi túm cánh tay cô ta còn cô ta cố giằng ra. Chiếc vòng tay đã tuột ra trong lúc ấy.”

“Ông đã lột nó ra - ông đã nói thế với tôi lúc nãy, phải không nhỉ?” Cô nhìn xuống sổ ghi chép. “Ông ‘đã lột nó ra khỏi cổ tay con điếm đó’?”

Patrick gật đầu. “Phải. Tôi thừa nhận rằng tôi đã tức giận. Tôi tức giận vì cô ta đã tán tỉnh con trai tôi, đe dọa cuộc hôn nhân của nó. Cô ta đã quyến rũ nó. Kể cả người đàn ông mạnh mẽ nhất và đạo đức nhất cũng vẫn có nguy cơ biến thành nô lệ của một người phụ nữ dâng hiến bản thân theo cách đó…”

“Theo cách nào?”

Patrick nghiến răng. “Mời chào một sự phóng túng tình dục mà có thể anh ta không tìm thấy ở nhà. Thật đáng buồn, tôi biết. Chuyện đã xảy ra. Tôi đã tức giận vì chuyện đó. Cuộc hôn nhân của con trai tôi đang rất bền vững” Patrick nhìn thấy hai hàng lông mày của điều tra viên Morgan nhướng lên, và một lần nữa, ông ta phải gồng mình lên. “Tôi đã tức giận vì chuyện đó. Tôi đã lột cái vòng ra khỏi cổ tay cô ta. Tôi đã đẩy cô ta.”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.